Du lịch Việt trước thách thức biến đổi khí hậu toàn cầu: Bài 4 -Làm gì để du lịch di sản bước ra thế giới?
Từ những phố cổ, làng nghề đến lễ hội truyền thống, di sản văn hóa đang góp phần tạo nên sức hút riêng cho du lịch Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Làm sao để những giá trị ấy được gìn giữ đúng mực, đồng thời trở thành động lực phát triển kinh tế du lịch là câu chuyện cần được nhìn nhận dài hạn.
Trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu, cùng với khát vọng đưa di sản văn hóa và thiên nhiên trở thành nguồn lực phát triển, Việt Nam đang từng bước chuyển hóa những "vốn liếng" cha ông để lại thành nền tảng cốt lõi cho sáng tạo và đổi mới. Từ đó, các ngành như du lịch, thời trang hay công nghiệp văn hóa có thêm điểm tựa để phát triển sản phẩm mang bản sắc riêng, góp phần lan tỏa hình ảnh và thương hiệu quốc gia ra thế giới.
Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, văn hóa được xác định là một trong những trụ cột quan trọng, tạo nên bản sắc và sức cạnh tranh của điểm đến. Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cả nước hiện có hơn 40.000 di tích, trong đó có hơn 10.000 di tích đã được xếp hạng với trên 3.600 di tích quốc gia và khoảng 130 di tích quốc gia đặc biệt, trải rộng khắp các vùng miền. Song song với đó, hệ thống di sản văn hóa phi vật thể cũng được xác lập một cách bài bản; đến nay đã có hơn 7.000 di sản phi vật thể được kiểm kê và trên 500 di sản được đưa vào Danh mục Di sản Văn hóa Phi vật thể quốc gia.
Trên phạm vi quốc tế, Việt Nam đã được UNESCO ghi danh 9 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 16 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và 11 di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới. Đây là nguồn lực dồi dào để phát triển du lịch văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Hài hòa bảo tồn và khai thác
Thực tiễn cho thấy ở nhiều quốc gia, nhờ con đường du lịch mà giá trị di sản văn hóa, di sản thiên nhiên đã trở thành “tài sản” tạo động lực phát triển kinh tế, xã hội. Đồng thời, từng bước làm thay đổi cơ cấu kinh tế địa phương nơi có di sản, mang đến cho cộng đồng và địa phương những lợi ích thiết thực, vững chắc.
Tuy nhiên, như PGS.TS Lê Văn Tấn - Phó trưởng khoa, Phụ trách Khoa Du lịch, Trường ĐH Công đoàn nhận định, khi di sản trở thành sản phẩm du lịch, những thách thức cũng bắt đầu nảy sinh, đặc biệt là mối quan hệ giữa bảo tồn và khai thác.
"Thách thức lớn nhất là sự mâu thuẫn giữa bảo tồn và khai thác du lịch, khi áp lực lợi ích kinh tế ngắn hạn dễ dẫn tới thương mại hóa quá mức và làm mai một giá trị nguyên gốc của di sản", PGS.TS Lê Văn Tấn nhấn mạnh.
Thực tế tại một số điểm đến nổi tiếng cho thấy, khi lượng khách tăng nhanh nhưng công tác quản lý chưa theo kịp, tình trạng quá tải dễ xảy ra, kéo theo áp lực lên hạ tầng, môi trường và đời sống cộng đồng. Không ít lễ hội truyền thống bị biến tướng, không gian di tích bị xâm lấn bởi hoạt động kinh doanh tự phát.
Bên cạnh đó, nguồn lực dành cho bảo tồn di sản còn hạn chế so với nhu cầu thực tế. Việc trùng tu, tôn tạo đòi hỏi kinh phí lớn và chuyên môn cao, trong khi nhiều địa phương vẫn phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước. Nếu không có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa quản lý nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng, di sản dễ bị khai thác như một “tài nguyên” ngắn hạn thay vì được nhìn nhận là giá trị lâu dài.

Đặt cộng đồng làm trung tâm
Trước những thách thức đó, theo PGS.TS Lê Văn Tấn, giải pháp cốt lõi là kiểm soát quy mô và sức tải du lịch, đảm bảo hoạt động khai thác không vượt quá khả năng chịu đựng của di sản. Điều này đòi hỏi quy hoạch tổng thể, phân luồng khách hợp lý và áp dụng các tiêu chí quản lý bền vững.
Quan trọng hơn, cộng đồng địa phương cần được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình phát triển du lịch gắn với di sản. Người dân không chỉ là đối tượng bị tác động mà phải trở thành chủ thể tham gia bảo tồn và hưởng lợi. Khi sinh kế gắn liền với việc gìn giữ giá trị văn hóa, cộng đồng sẽ có động lực bảo vệ di sản một cách tự giác và lâu dài.
Chẳng hạn như trường hợp Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (tỉnh Quảng Trị). Tại đây, quá trình bảo tồn di sản thiên nhiên cũng đặt ra không ít thách thức khi nơi đây là không gian sinh sống của hàng chục nghìn người dân, trong đó có các cộng đồng Chứt và Bru - Vân Kiều. Trước đây, sinh kế của nhiều hộ dân chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên như săn bắt, đánh bắt thủy sản, tạo áp lực nhất định lên công tác bảo tồn.
Những năm gần đây, với sự hỗ trợ từ Trung ương và các tổ chức quốc tế, địa phương từng bước tháo gỡ bài toán hài hòa giữa sinh kế và bảo tồn. Năm 2024, thông qua chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững, Vườn đã hỗ trợ cây trồng, con giống và xây dựng các mô hình sinh kế, tạo điều kiện để hàng nghìn lao động địa phương tham gia dịch vụ du lịch như chụp ảnh, bán hàng lưu niệm, kinh doanh ẩm thực, vận chuyển khách tham quan.

Thực tế cho thấy, phát triển du lịch lấy di sản làm trụ cột không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội rõ nét, mà còn góp phần phục hồi lễ hội, nghề thủ công truyền thống, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giảm nghèo tại địa phương.
Song sóng với đó, việc khai thác cũng cần chuyển từ mô hình đại trà sang những trải nghiệm có chiều sâu. Thay vì chỉ dừng lại ở tham quan, chụp ảnh, du khách có thể tham gia các hoạt động tương tác như học nghề truyền thống, tìm hiểu đời sống bản địa, trải nghiệm ẩm thực, nghệ thuật dân gian. Cách tiếp cận này không chỉ giúp nâng cao giá trị chi tiêu của du khách mà còn giảm áp lực lên không gian di sản.
Trong bối cảnh hội nhập, câu chuyện “kể” về di sản cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng. PGS.TS Lê Văn Tấn cho rằng, di sản văn hóa Việt Nam cần được giới thiệu bằng “ngôn ngữ toàn cầu nhưng giữ hồn cốt Việt”. Điều đó có nghĩa là thông tin, thuyết minh, truyền thông cần hiện đại, dễ tiếp cận với du khách quốc tế, song không làm mất đi chiều sâu văn hóa bản địa.
Ứng dụng công nghệ số, thực tế ảo, hệ thống thuyết minh đa ngôn ngữ hay các nền tảng truyền thông quốc tế có thể giúp di sản trở nên sinh động hơn. Tuy nhiên, cốt lõi vẫn là câu chuyện về con người – những giá trị sống động gắn với đời sống, lịch sử và tinh thần dân tộc.

Tạo nguồn lực lâu dài cho phát triển bền vững
Ở tầm nhìn dài hạn, PGS.TS Lê Văn Tấn cho rằng cần tiếp cận di sản theo quan điểm “bảo tồn chủ động gắn với phát triển bền vững”. Thay vì xem di sản như tài nguyên để khai thác tối đa trong ngắn hạn, cần coi đây là nguồn lực lâu dài phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
Điều này đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa bảo tồn, giáo dục và du lịch có kiểm soát. Di sản không chỉ phục vụ du khách mà còn là không gian giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử, văn hóa và bản sắc dân tộc. Khi người dân, đặc biệt là giới trẻ, hiểu và tự hào về giá trị truyền thống, việc bảo vệ di sản sẽ trở thành nhu cầu nội tại.
Mặt khác, phát triển du lịch gắn với di sản cần đảm bảo lợi ích được phân bổ công bằng. Cộng đồng địa phương vừa là chủ thể bảo vệ, vừa là người hưởng lợi từ hoạt động kinh tế. Khi sinh kế được cải thiện, chất lượng sống được nâng cao, người dân sẽ chủ động tham gia vào quá trình bảo tồn.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, di sản văn hóa không chỉ là “ký ức” của quá khứ mà còn là nguồn lực mềm giúp Việt Nam khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Nếu được quản lý và khai thác đúng hướng, di sản sẽ vừa giữ được hồn cốt dân tộc, vừa trở thành động lực thúc đẩy du lịch phát triển theo hướng bền vững.
Giữ gìn và phát huy di sản văn hóa vì thế không phải là lựa chọn giữa bảo tồn hay phát triển, mà là hành trình tìm kiếm sự cân bằng. Khi di sản được nhìn nhận như một giá trị sống động, được kể bằng ngôn ngữ của thời đại nhưng vẫn giữ nguyên bản sắc, du lịch Việt Nam sẽ có thêm nền tảng vững chắc để bước sâu hơn vào dòng chảy hội nhập toàn cầu.
Lời kết
Trong vòng quay toàn cầu, du lịch Việt Nam đang đối mặt nhiều vấn đề trong đó phải nói đến những thách thức của biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, khi bỏ qua những khó khăn mang tính khách quan đó cần phải thẳng thắn thừa nhận để du lịch Việt Nam thực sự thu hút du khách quốc tế ngành du lịch cần phải giải quyết nhiều vấn đề mang tính nội tại.
Khó khăn còn nhiều nhưng giải pháp không phải là không có. Nhiệm vụ của ngành và của người làm du lịch hiện nay chính là bắt tay vào các vấn đề cụ thể để du lịch thực sự trở thành ngành mũi nhọn của đất nước, góp phần quảng bá con người và văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Phương Anh
2 giờ trước
9 giờ trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
10 ngày trước
11 ngày trước
12 ngày trước
12 ngày trước
3 giờ trước
1 giờ trước
5 phút trước
37 phút trước
2 phút trước
6 phút trước
6 phút trước
6 phút trước
10 phút trước