🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Dư địa cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

1 ngày trước
Mục tiêu tăng trưởng hai con số vừa đặt ra yêu cầu cao về điều hành, vừa đòi hỏi cách tiếp cận mới trong nhận diện và khai thác dư địa tăng trưởng. Vấn đề không chỉ là đặt mục tiêu cao hơn, mà là tìm đúng không gian, lĩnh vực và động lực có thể tạo tăng trưởng thực; từ đó tháo đúng điểm nghẽn, kích hoạt đúng nguồn lực và biến từng dư địa thành năng lực phát triển cụ thể.

Không thể chỉ cộng thêm chỉ tiêu

Nếu chỉ dừng ở việc phân bổ chỉ tiêu, tăng trưởng hai con số rất dễ trở thành một phép tính cơ học, trong khi nền kinh tế lại vận hành bằng những giới hạn thực tế về vốn, lao động, hạ tầng, thị trường, năng lực hấp thụ khác nhau. Mục tiêu tăng trưởng cao cần được chuyển hóa thành chương trình hành động cụ thể, gắn với từng ngành, từng địa phương, từng khu vực kinh tế và từng nhóm chính sách.

Để cả nền kinh tế đạt mức tăng trưởng hai con số, không có nghĩa mọi ngành, mọi lĩnh vực, mọi địa phương đều phải tăng trưởng hai con số. Mỗi khu vực có đặc điểm, quy mô, vai trò và biên độ tăng trưởng khác nhau. Đơn cử, khu vực nông nghiệp nhiều năm qua duy trì được sự tăng trưởng ổn định, phát huy vai trò bệ đỡ quan trọng, nhất là trong bảo đảm an ninh lương thực, ổn định đời sống, xuất khẩu nông sản và an sinh xã hội. Nhưng do tỷ trọng và đặc thù sản xuất, rất khó kỳ vọng khu vực này tạo ra mức bứt phá đột biến cho mục tiêu tăng trưởng chung.

Năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78%, đóng góp 5,30% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; quý I/2026, khu vực này tăng 3,36%, đóng góp 4,01%... Những con số như vậy cho thấy vai trò quan trọng của nông nghiệp không nằm ở việc tạo “cú nhảy” tăng trưởng, mà ở khả năng duy trì ổn định, làm nền cho các khu vực khác tăng tốc.

Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, tăng trưởng không phải là câu chuyện ngắn hạn mà là bài toán đặt trong tầm nhìn dài hạn. Vì vậy, cần làm đồng thời hai việc: Vừa đổi mới mô hình tăng trưởng để đạt tốc độ cao (điều kiện cần); đồng thời phải đảm bảo tính bền vững (điều kiện đủ). Với góc nhìn đó, chuyên gia này cho rằng, không nhất thiết năm nào cũng phải đạt tăng trưởng 10% trở lên, mà nên hướng tới mục tiêu bình quân 10% trong 5 năm. Đây là cách tiếp cận thực chất hơn, giúp chính sách điều hành linh hoạt hơn và tránh áp lực chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá trong từng năm riêng lẻ. Đáng chú ý, TS. Cấn Văn Lực cho rằng cần khai thác các động lực tăng trưởng mới, kết hợp mô hình “3i” gồm đầu tư, nhập khẩu và hấp thụ công nghệ, đổi mới sáng tạo; đồng thời nâng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) thông qua khoa học công nghệ, chuyển đổi số, nhân lực chất lượng cao, hạ tầng, logistics và cải cách thể chế.

Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, chúng ta cần khai thác tốt các dư địa từ công nghiệp, đầu tư, xuất khẩu, logistics Ảnh: PV

Dư địa phải đi cùng năng suất và chất lượng

Những tháng đầu năm 2026, kinh tế tiếp tục ghi nhận nhiều kết quả tích cực, cho thấy nền kinh tế còn dư địa lớn để tăng tốc. Tuy nhiên, bên cạnh đó là những sức ép không thể xem nhẹ: lạm phát tăng nhanh hơn cùng kỳ, nhập siêu mở rộng, chi phí đầu vào tăng, trong khi năng lực cung ứng trong nước, chất lượng liên kết giữa các khu vực kinh tế và khả năng hấp thụ vốn vẫn là những điểm cần tiếp tục củng cố. Vì vậy, bài toán tăng trưởng hai con số chỉ có thể đạt được khi mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi khu vực kinh tế biết rõ phần dư địa của mình nằm ở đâu, dư địa đó đang bị nghẽn bởi yếu tố nào và cần giải pháp gì để khai thông.

Với sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo và các ngành liên quan đến xuất khẩu, dư địa tăng trưởng vẫn còn khá lớn. Đây là khu vực có khả năng tạo giá trị gia tăng, việc làm, xuất khẩu và lan tỏa sang nhiều ngành khác. Nhưng để công nghiệp tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng, nhiệm vụ không chỉ là tăng sản lượng, mà còn phải tháo vướng cho các dự án lớn, đồng thời nâng năng lực tự chủ của nền kinh tế. Nếu sản xuất, xuất khẩu tăng nhưng phần lớn nguyên liệu, linh kiện, máy móc vẫn phải nhập khẩu thì dư địa tăng trưởng sẽ bị giới hạn bởi nhập siêu, áp lực tỷ giá và chi phí đầu vào.

Dư địa lớn khác nằm ở đầu tư, bao gồm đầu tư công, đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài. Trong đó, đầu tư công tiếp tục là công cụ quan trọng để phát triển hạ tầng và kích hoạt các nguồn lực khác. Cùng với đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng GDP trong ngắn hạn từ phần vốn được giải ngân, đầu tư công còn đóng góp gián tiếp thông qua hiệu ứng lan tỏa, mở ra không gian phát triển mới, giảm chi phí logistics, kết nối vùng, kích thích đầu tư tư nhân… Với đầu tư tư nhân, dư địa lớn nhất nằm ở cải cách thủ tục, tiếp cận vốn, đất đai, thị trường và sự ổn định của môi trường kinh doanh. Với FDI, vấn đề không chỉ là thu hút thêm vốn, mà là lựa chọn dự án có chất lượng, có liên kết với doanh nghiệp trong nước và có đóng góp vào nâng cấp công nghệ.

Tuy nhiên, các dư địa trên chỉ thật sự có ý nghĩa nếu đi cùng năng suất và chất lượng tăng trưởng. Theo ước tính, để đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tốc độ tăng năng suất lao động bình quân cần đạt khoảng 8,1-8,6%/năm; TFP đóng góp bình quân 55%; vốn đầu tư toàn xã hội tăng trung bình khoảng 8,6 - 9,3%/năm…

Bên cạnh các động lực truyền thống, yêu cầu quan trọng hơn trong giai đoạn tới là khai thác các động lực tăng trưởng mới. Đã có những tính toán cho thấy, nếu khai thác hiệu quả, các động lực mới có thể giúp tăng trưởng GDP thêm khoảng 2 - 3 điểm%. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế số, tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn… vì thế không chỉ là những khẩu hiệu phát triển dài hạn, mà phải trở thành nguồn tăng năng suất và năng lực cạnh tranh mới. Nếu các động lực truyền thống giúp nền kinh tế mở rộng quy mô, thì các động lực mới quyết định nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh hơn mà vẫn bền vững hơn hay không.

Nhận diện đúng dư địa là quan trọng, nhưng điều quyết định là chúng ta có biến được dư địa đó thành tăng trưởng thực hay không. Một dự án cụ thể về lý thuyết có thể tạo thêm việc làm, năng lực sản xuất nhưng nếu chậm triển khai do vướng mặt bằng, thủ tục, vốn, quy hoạch… thì thực tế sẽ khác xa so với tính toán và kỳ vọng. Một thị trường có sức mua lớn nhưng nếu chi phí lưu thông cao, hàng hóa kém cạnh tranh, thu nhập người dân không cải thiện thì cũng khó kỳ vọng tạo đột phá. Một địa phương dù có tiềm năng công nghiệp, du lịch lớn nhưng bộ máy hoạt động chưa thực sự hiệu quả, thủ tục hành chính còn rườm rà, hạ tầng thiếu kết nối… thì cũng khó chuyển hóa dư địa thành động lực tăng trưởng thực sự.

Vì vậy, trong quá trình điều hành để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ cần một cách tiếp cận rất cụ thể và trực diện: nơi nào đang nghẽn thì phải tháo gỡ; nơi nào tăng nhanh nhưng thiếu bền vững thì phải nâng chất; nơi nào có tiềm năng nhưng chưa thành động lực thì phải có chính sách kích hoạt. Khi dư địa tăng trưởng được xác định đúng và được chuyển hóa bằng hành động cụ thể, mục tiêu tăng trưởng cao sẽ đạt được một cách bền vững, thay vì bị áp lực bởi các con số.

Đỗ Phạm

TIN LIÊN QUAN





























Home Icon VỀ TRANG CHỦ