🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản: Mở đường cho xuất bản số

3 giờ trước
Thảo luận tại Tổ 7 sáng 5/8 về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản, các ĐBQH tỉnh Nghệ An và Lâm Đồng đề nghị hoàn thiện cơ chế quản lý nội dung trên môi trường mạng; đồng thời, bảo đảm cải cách thủ tục, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm không tạo thêm rào cản đối với nghiên cứu khoa học và phổ biến tri thức.

Tránh áp dụng một thủ tục cho mọi trường hợp

ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An) tán thành sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Xuất bản nhằm tháo gỡ khó khăn trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, đổi mới mô hình quản lý và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.

ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An) phát biểu

Góp ý tại Điều 42 về nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh, đại biểu cho biết dự thảo đang liệt kê nhiều trường hợp, gồm: tài liệu phục vụ hội nghị, hội thảo quốc tế; xuất bản phẩm là tài sản của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân để sử dụng riêng; xuất bản phẩm thuộc tiêu chuẩn hành lý mang theo người của người nhập cảnh để sử dụng cho nhu cầu cá nhân; xuất bản phẩm tặng, tài liệu trao đổi, biếu, tặng cho thư viện và tài liệu của chủ thể được hưởng ưu đãi ngoại giao.

Theo đại biểu, các trường hợp này có mục đích và mức độ rủi ro rất khác nhau, vì vậy không nên áp dụng nghĩa vụ giống nhau.

Đại biểu đề nghị quy định ngưỡng về số lượng, giá trị hoặc tần suất nhập khẩu. Chỉ khi vượt ngưỡng hoặc có dấu hiệu kinh doanh mới chuyển sang áp dụng thủ tục nhập khẩu để kinh doanh.

Liên quan đến khoản 4 Điều 42, dự thảo quy định xuất bản phẩm tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này sau khi sử dụng phải tái xuất. Trong đó, điểm a là tài liệu phục vụ hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam; điểm b là xuất bản phẩm thuộc tài sản của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân để sử dụng riêng.

Đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú cho rằng, yêu cầu cá nhân hoặc gia đình phải tái xuất chính tài sản riêng sau khi sử dụng là không hợp lý, khó thực hiện và có nguy cơ xung đột với quyền sở hữu tài sản...

Vì vậy, đại biểu đề nghị nghiên cứu chỉnh lý theo hướng xuất bản phẩm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 42, nếu nhập khẩu theo chế độ tạm nhập, phải tái xuất sau khi kết thúc mục đích sử dụng, trừ trường hợp được chuyển giao hợp pháp theo quy định của pháp luật... Đồng thời, cần nghiên cứu bỏ điểm b khỏi phạm vi bắt buộc tái xuất.

Toàn cảnh thảo luận tại Tổ 7

Góp ý tại Điều 51 về nhập khẩu xuất bản phẩm điện tử, đại biểu cho biết: dự thảo quy định việc nhập khẩu quyền truy cập xuất bản phẩm điện tử, tệp điện tử mang nội dung xuất bản phẩm, xuất bản phẩm được chứa trong thiết bị, phương tiện hoặc vật mang tin là nhập khẩu xuất bản phẩm điện tử; đồng thời yêu cầu chủ thể bảo đảm nguồn gốc, quyền khai thác và khả năng lưu trữ, truy xuất.

Tuy nhiên, đại biểu đề nghị phân biệt rõ các trường hợp có bản chất khác nhau.

Theo đó, nhập khẩu vật mang tin hoặc thiết bị có chứa xuất bản phẩm gắn với thủ tục hải quan. Việc mua quyền truy cập hoặc tải tệp từ nền tảng nước ngoài về bản chất là giao dịch số xuyên biên giới, không phải hàng hóa vật chất qua cửa khẩu. Việc mua quyền xuất bản, dịch thuật hoặc khai thác là giao dịch quyền sở hữu trí tuệ. Trong khi đó, thuê bao thư viện điện tử hoặc cơ sở dữ liệu là dịch vụ số.

Do bản chất của 4 trường hợp này khác nhau, đại biểu cho rằng: không nên áp dụng thủ tục nhập khẩu hàng hóa truyền thống cho tất cả các trường hợp.

Đối với quyền truy cập và tải tệp, Luật Xuất bản chỉ nên quy định các yêu cầu về nội dung, nguồn gốc và quyền khai thác; trách nhiệm lưu giữ chứng từ; khả năng cung cấp bản truy cập cho cơ quan có thẩm quyền.

Các vấn đề về thanh toán, nền tảng xuyên biên giới, thuế và dữ liệu thực hiện theo pháp luật về thương mại điện tử, giao dịch điện tử, thuế, sở hữu trí tuệ và dữ liệu.

ĐBQH Nguyễn Văn Ngọc (Lâm Đồng) phát biểu.

Cùng quan tâm đến việc tránh phát sinh những rào cản không cần thiết, ĐBQH Nguyễn Văn Ngọc (Lâm Đồng) đề nghị rà soát quy định về tài liệu không kinh doanh, đối tượng được thành lập nhà xuất bản và việc quản lý nội dung có tính chất xuất bản trên môi trường mạng.

Về khái niệm tài liệu không kinh doanh tại khoản 6 Điều 4, đại biểu cho biết: Luật Xuất bản năm 2012 xác định loại tài liệu này dựa trên mục đích không nhằm kinh doanh. Trong khi đó, dự thảo lần này quy định theo hướng liệt kê bốn nhóm tài liệu cụ thể.

Theo đại biểu, cách quy định theo danh mục khép kín có thể bỏ sót nhiều loại tài liệu đang được sử dụng phổ biến nhưng không nhằm mục đích kinh doanh, như tài liệu hướng dẫn kỹ thuật khuyến nông, khuyến lâm; tài liệu chăm sóc sức khỏe cộng đồng; tài liệu song ngữ bằng tiếng dân tộc thiểu số; tài liệu, công trình nghiên cứu lưu hành nội bộ của các cơ sở giáo dục và nghiên cứu.

Các ĐBQH tỉnh Nghệ An tham dự phiên thảo luận

Đại biểu cho rằng, quy định này có thể chưa thống nhất với chính sách của Nhà nước về hỗ trợ xuất bản phẩm phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và phổ biến tri thức trong cộng đồng, bởi những tài liệu thuộc nhóm này có thể phải thực hiện thêm thủ tục nếu không được xác định là tài liệu không kinh doanh.

Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung một quy định có tính mở đối với các loại tài liệu không nhằm mục đích kinh doanh khác và giao Chính phủ quy định cụ thể, bảo đảm linh hoạt trong quá trình thực hiện.

Về đối tượng được thành lập nhà xuất bản tại Điều 12, đại biểu đánh giá cao việc dự thảo bổ sung cơ sở giáo dục đại học công lập vào nhóm chủ thể được thành lập nhà xuất bản.

Tuy nhiên, theo đại biểu, phạm vi dự thảo hiện mới tập trung vào các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc bộ hoặc cơ quan ngang bộ, trong khi nhiều trường đại học, viện nghiên cứu công lập thuộc UBND cấp tỉnh cũng tạo ra khối lượng lớn giáo trình, tài liệu và công trình nghiên cứu phục vụ địa phương và cả nước.

Nếu không bổ sung nhóm đối tượng này, khả năng xuất bản, phổ biến kết quả nghiên cứu và tri thức của các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu thuộc địa phương có thể bị hạn chế.

Do đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu mở rộng đối tượng được thành lập nhà xuất bản đối với cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu công lập thuộc UBND cấp tỉnh; đồng thời làm rõ khái niệm “đơn vị sự nghiệp công lập ở trung ương” để tránh cách hiểu và áp dụng không thống nhất.

Liên quan đến các hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 10, đại biểu băn khoăn về quy định cấm phổ biến nội dung có tính chất xuất bản trên môi trường mạng nếu không đáp ứng điều kiện do Chính phủ quy định.

Các ĐBQH tỉnh Lâm Đồng tham dự thảo luận tổ

Theo đại biểu, việc giao quy định toàn bộ điều kiện và phạm vi áp dụng cho văn bản dưới luật cần được cân nhắc kỹ, bởi nội dung này có liên quan trực tiếp đến quyền phổ biến thông tin, quyền tự do ngôn luận và hoạt động nghiên cứu khoa học.

Nếu phạm vi “nội dung có tính chất xuất bản” và các điều kiện thực hiện không được xác định rõ trong Luật, một số hoạt động như công bố báo cáo nghiên cứu về nông nghiệp, đa dạng sinh học hoặc số hóa, giới thiệu văn hóa dân tộc trên cổng thông tin điện tử của các trường đại học, viện nghiên cứu có thể gặp vướng mắc trong quá trình thực hiện.

Vì vậy, đại biểu đề nghị quy định rõ hơn ngay trong Luật về phạm vi nội dung, nguyên tắc và những trường hợp phải đáp ứng điều kiện; tránh tạo rủi ro pháp lý hoặc cản trở hoạt động nghiên cứu, phổ biến tri thức, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực xuất bản.

Chuyển sang hậu kiểm phải gắn với trách nhiệm quản lý chặt chẽ

Theo ĐBQH Phạm Nam Tiến (Lâm Đồng), dự thảo lần này đã bổ sung nhiều nội dung căn bản, rõ nét hơn so với Luật Xuất bản năm 2012, như cải cách thủ tục hành chính; thay đổi mô hình tổ chức xuất bản; cho phép UBND cấp tỉnh hoặc cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về văn hóa thành lập nhà xuất bản; đưa hoạt động phát hành xuất bản phẩm ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm và bổ sung quy định về xuất bản trên mạng.

ĐBQH Phạm Nam Tiến (Lâm Đồng) phát biểu

Những thay đổi này góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ, đẩy mạnh cấp phép điện tử và khuyến khích đổi mới sáng tạo. Đại biểu cơ bản tán thành các nội dung của dự thảo, đồng thời đề nghị tiếp tục hoàn thiện một số vấn đề.

Về chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đại biểu bày tỏ đồng tình vì đây là giải pháp cần thiết để cải cách thủ tục hành chính. Tuy nhiên, dự thảo cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý nhà nước trong công tác thẩm định tác phẩm, nội dung xuất bản, nhất là những nội dung liên quan đến lịch sử cách mạng, dân tộc, lãnh tụ và lãnh đạo.

Theo đại biểu, cần xác định danh mục những nội dung phải thẩm định; đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ thẩm định có trách nhiệm, trình độ chuyên môn, năng lực và bản lĩnh chính trị.

Đại biểu cho rằng, trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, có những nội dung chống phá, bịa đặt, vu khống được che giấu dưới hình thức, tên gọi khó nhận biết. Vì vậy, trách nhiệm của cơ quan chủ quản trong thẩm định, quản lý nội dung xuất bản phải được quy định cụ thể, chặt chẽ, không để xảy ra những sơ hở dẫn đến các sự việc nghiêm trọng.

Về mô hình cơ quan xuất bản - truyền thông chủ lực quốc gia tại Điều 12 và chính sách đầu tư xây dựng tập đoàn xuất bản - truyền thông chủ lực quốc gia tại khoản 3 Điều 7, đại biểu bày tỏ tán thành và cho rằng đây là nội dung có ý nghĩa lớn, được các cơ quan trong ngành xuất bản và nhiều nhà xuất bản kỳ vọng.

Tuy nhiên, để chủ trương đi vào thực tiễn, đại biểu đề nghị làm rõ đối tượng chủ yếu được thụ hưởng chính sách tại khoản 3 Điều 7. Nếu không xác định cụ thể những đơn vị thuộc diện thụ hưởng thì chính sách ưu đãi sẽ khó triển khai trong thực tế... Bên cạnh đó, cần làm rõ nguồn lực tài chính và cơ chế thực hiện chính sách đầu tư xây dựng tập đoàn xuất bản - truyền thông chủ lực quốc gia, như sử dụng ngân sách nhà nước, kết hợp nguồn lực công - tư hay áp dụng mô hình khác.

Diệp Anh; ảnh: Khánh Duy

TIN LIÊN QUAN


























Home Icon VỀ TRANG CHỦ