Đổi mới mô hình phát triển: Kiến tạo động lực tăng trưởng cho kỷ nguyên mới

Quang cảnh Hội thảo “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới”. Ảnh: T.THIỆN
Nhiều điểm nghẽn cản trở nền kinh tế phát triển
Tại Hội thảo “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới”, do Đại học Kinh tế Quốc dân phối hợp cùng Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản và Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh tổ chức ngày 20/8, GS,TS. Ngô Thắng Lợi - Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết, sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm cao trên thế giới với mức tăng GDP bình quân khoảng 6,4%/năm, cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu. Từ quy mô GDP chỉ khoảng 6,7 tỷ USD năm 1990, nền kinh tế đã vượt mốc 500 tỷ USD sau 40 năm, tăng hơn 70 lần và vươn lên vị trí thứ 35 thế giới.
Thu nhập bình quân đầu người cũng có bước tiến dài. Từ mức 99 USD/người/năm vào năm 1990, Việt Nam đã chuyển từ nhóm nước thu nhập thấp sang nhóm thu nhập trung bình thấp vào năm 2009 và tiếp tục vươn lên nhóm thu nhập trung bình cao sau đó. Cùng với tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu xã hội và phát triển con người cũng được cải thiện mạnh mẽ. Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng từ 0,499 trong giai đoạn đầu đổi mới lên 0,766 vào năm 2025, đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có mức phát triển con người cao.
Dù vậy, GS,TS. Ngô Thắng Lợi cũng chỉ ra hàng loạt điểm nghẽn đang cản trở quá trình phát triển. Đó là, tăng trưởng kinh tế có xu hướng giảm dần qua các thời kỳ, động lực tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) còn thấp, sự phụ thuộc vào khu vực FDI vẫn lớn trong khi liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu (chỉ khoảng 13% doanh nghiệp FDI có liên kết với doanh nghiệp nội địa).
Một vấn đề khác được chuyên gia nhấn mạnh là năng lực của khu vực kinh tế tư nhân trong nước còn hạn chế. Doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ chiếm tới 95% tổng số doanh nghiệp; trình độ công nghệ, khả năng liên kết và hiệu quả hoạt động còn thấp. Trong khi đó, bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực như đất đai, vốn vẫn ở mức cao; tác động của tăng trưởng đối với tiến bộ xã hội có dấu hiệu suy giảm. Đáng chú ý, mức đầu tư cho nghiên cứu - phát triển, giáo dục và y tế đều thấp hơn khá nhiều so với các chuẩn quốc tế.
Đề cập thêm hạn chế của nền kinh tế, GS,TS. Nguyễn Trọng Hoài - Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở năng suất. Tăng trưởng TFP của Việt Nam còn thấp so với nhiều nền kinh tế mới nổi; chất lượng lao động và mức đầu tư cho công nghệ còn hạn chế. Trong khi đó, dư địa tăng trưởng từ chuyển dịch cơ cấu lao động đang giảm dần, đòi hỏi nền kinh tế phải chuyển sang dựa nhiều hơn vào công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực.
Một thực tế nữa đáng quan ngại là mặc dù xuất khẩu tăng trưởng mạnh trong nhiều năm, nhưng giá trị gia tăng tạo ra trong nước còn thấp. Sự liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa tương xứng, khiến năng lực công nghệ và vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế.

GS,TS. Ngô Thắng Lợi - Đại học Kinh tế Quốc dân phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: nhandan.vn
Kiến tạo động lực tăng trưởng để phát triển nhanh, bền vững
Từ những điểm nghẽn nội tại của nền kinh tế, GS,TS. Nguyễn Trọng Hoài cho rằng Việt Nam cần chuyển từ mô hình phát triển dựa thuần túy vào đầu tư sang mô hình “3I”, gồm Investment (đầu tư), Infusion (lan tỏa công nghệ) và Innovation (đổi mới sáng tạo). Trong đó, ba trụ cột then chốt là nâng cao nội lực doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy lan tỏa công nghệ từ doanh nghiệp nước ngoài và đưa doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các nấc thang giá trị cao của chuỗi giá trị toàn cầu.
Bên cạnh mục tiêu tăng trưởng, chuyên gia cũng nhấn mạnh yêu cầu phát triển cân bằng và bao trùm. Theo đó, mô hình phát triển mới cần tạo điều kiện cho các xu hướng như “di cư ngược”, phát triển kinh tế bạc khi Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số, đồng thời bảo đảm mọi nhóm dân cư đều có cơ hội tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển.
Trong khi đó, TS. Nguyễn Sĩ Dũng - Nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cho rằng muốn đổi mới mô hình phát triển thì trước hết phải đổi mới mô hình quản trị quốc gia. Theo ông, không thể xây dựng một mô hình tăng trưởng mới trên nền tảng một hệ thống quản trị cũ.
TS. Dũng cũng chỉ ra nhiều hạn chế trong quản trị hiện nay như phân cấp, phân quyền chưa triệt để; phạm vi thẩm quyền giữa Trung ương và địa phương chưa thật sự rõ ràng; cơ chế chấp nhận rủi ro cho đổi mới sáng tạo còn thiếu; quản trị liên ngành, liên vùng chưa hiệu quả. Đây là những yếu tố đang làm gia tăng chi phí thời gian và làm giảm hiệu quả vận hành của hệ thống.
“Đổi mới thể chế phải trở thành một đột phá trọng tâm nhằm tạo không gian cho đổi mới sáng tạo, nâng cao hiệu quả quản trị và khai thông các nguồn lực phát triển” - TS. Dũng nhấn mạnh.
Từ góc nhìn khoa học công nghệ, PGS,TS. Nguyễn Ngọc Sơn - Phó Hiệu trưởng Trường Kinh tế và Quản lý công, Đại học Kinh tế Quốc dân chia sẻ, mô hình tăng trưởng của Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn, từ dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ, đến tăng trưởng theo chiều rộng dựa vào FDI và gia công. Hiện nay, Việt Nam đang chuyển sang mô hình dựa vào hiệu quả và năng suất, nhưng đóng góp của năng suất vẫn chưa đạt kỳ vọng.
Do đó, để đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong dài hạn, Việt Nam phải chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời tạo ra những giá trị đặc thù và những doanh nghiệp công nghệ mạnh mang thương hiệu Việt Nam.
PGS,TS. Nguyễn Ngọc Sơn cũng đồng quan điểm với TS. Dũng khi nhấn mạnh vai trò của thể chế. Theo ông, nhiều chỉ số về chất lượng quản trị của Việt Nam vẫn ở mức thấp. Do đó, thách thức không chỉ nằm ở việc ban hành các nghị quyết hay chính sách mới, mà quan trọng hơn là biến những định hướng đó thành kết quả cụ thể, tạo ra giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh thực chất cho nền kinh tế.
Ở khía cạnh xã hội, GS,TS. Giang Thanh Long - Đại học Kinh tế Quốc dân lưu ý rằng không thể tách rời bài toán phát triển kinh tế với các vấn đề xã hội. Theo ông Long, Việt Nam đang đứng trước nhiều xu hướng lớn như già hóa dân số, di cư, mở rộng tầng lớp trung lưu, biến đổi khí hậu... Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với mô hình phát triển mới.
Đặc biệt, nguy cơ “già trước khi giàu”, chất lượng lao động còn thấp, tỷ lệ lao động phi chính thức cao và những khoảng trống trong hệ thống an sinh xã hội có thể trở thành lực cản đối với tăng trưởng bền vững nếu không được xử lý kịp thời.
“Để chuyển đổi thành công sang mô hình tăng trưởng mới, Việt Nam phải lựa chọn được giải pháp cân bằng giữa phát triển kinh tế và an sinh xã hội” - ông Long đề xuất.
Bổ sung góc nhìn về điều kiện để duy trì tăng trưởng cao, GS,TS. Sử Đình Thành - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, nguyên Giám đốc Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng có bốn yếu tố then chốt quyết định khả năng đạt tăng trưởng hai con số, gồm tỷ lệ đầu tư, tỷ trọng ngành chế biến chế tạo có giá trị cao, quy mô chi tiêu Chính phủ và khả năng kiểm soát lạm phát.
Theo ông Thành, Việt Nam cần tránh phụ thuộc vào số lượng vốn đầu tư, thay vào đó phải tập trung nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế, chuyển hóa hiệu quả nguồn vốn FDI và độ mở thương mại thành năng lực công nghệ và sức cạnh tranh thực chất của doanh nghiệp trong nước.
“Tăng trưởng bền vững chỉ có thể đạt được khi nền kinh tế dịch chuyển sang các ngành có giá trị gia tăng cao, đồng thời duy trì ổn định kinh tế vĩ mô thông qua kiểm soát lạm phát và tối ưu hóa chi tiêu công” - ông Thành nhấn mạnh./.
TRẦN THIỆN
4 giờ trước
13 phút trước
29 phút trước
2 giờ trước
56 phút trước
1 phút trước
1 phút trước
4 phút trước
4 phút trước
5 phút trước
6 phút trước
6 phút trước
7 phút trước
7 phút trước
9 phút trước
11 phút trước
12 phút trước