🔍
Chuyên mục: Kinh tế

GDP tăng 8,18%, vì sao doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn lớn?

56 phút trước
GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18%, nhưng 151,1 nghìn doanh nghiệp vẫn rút lui khỏi thị trường. Vì sao tăng trưởng chưa lan tỏa đến doanh nghiệp, PV Báo Xây dựng phỏng vấn ông Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam về vấn đề này.

GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18%, mức cao nhất trong nhiều năm, nhưng số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn lớn. Nhiều ý kiến cho rằng đây là một "nghịch lý" của nền kinh tế. Theo ông, cách nhìn đó có chính xác không, điều này phản ánh bản chất gì của nền kinh tế? Vấn đề nằm ở tốc độ tăng trưởng hay ở chất lượng và mức độ lan tỏa của tăng trưởng tới khu vực doanh nghiệp?

Theo tôi, gọi đây là "nghịch lý" chỉ đúng một phần. Về mặt thống kê kinh tế, hai chỉ tiêu tăng trưởng GDP cao và số doanh nghiệp rút lui lớn không nhất thiết mâu thuẫn với nhau, bởi GDP đo giá trị gia tăng của toàn nền kinh tế, trong khi số doanh nghiệp rút lui phản ánh sức khỏe và động thái gia nhập - rút lui của khu vực doanh nghiệp trong nước. Tăng trưởng kinh tế còn có sự đóng góp của các động lực khác như đầu tư công của chính phủ, tiêu dùng của các hộ gia đình hay hoạt động xuất khẩu của khu vực FDI.

Tuy nhiên, đúng là mặc dù số liệu tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2026 đạt mức cao kỷ lục nhưng số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn lớn là một vấn đề rất đáng lưu ý. Có vẻ như những doanh nghiệp có quy mô lớn, có đơn hàng, có liên kết với chuỗi cung ứng, có năng lực tài chính và quản trị tốt có thể tận dụng được đà phục hồi. Ngược lại, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ có năng lực tài chính yếu vẫn đang chịu sức ép lớn từ chi phí vốn, chi phí đầu vào, thiếu khách hàng và thị trường, dẫn đến phải dừng hoạt động.

Ông Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới.

Vì vậy, tôi cho rằng vấn đề không nằm ở tốc độ tăng trưởng, mà có liên quan nhiều hơn đến chất lượng và độ lan tỏa của tăng trưởng. Nếu tăng trưởng chủ yếu tập trung vào một số khu vực, một số ngành, một số doanh nghiệp lớn hoặc khu vực FDI, trong khi lực lượng doanh nghiệp nội địa đa số vẫn yếu và không đóng góp được tương xứng, thì nền kinh tế có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao trong ngắn hạn nhưng vẫn chưa thể đảm bảo được nền tảng tăng trưởng cao trong dài hạn. Khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm trên 97% tổng số doanh nghiệp), phải là lực lượng quan trọng nhất giúp tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, cũng như khơi thông nguồn lực địa phương để tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng cao và bền vững của nền kinh tế.

Nếu loại trừ những yếu tố mang tính chu kỳ của nền kinh tế thế giới, theo ông, làn sóng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và rút lui hiện nay phản ánh quá trình sàng lọc tất yếu của thị trường hay cho thấy sức chống chịu của khu vực doanh nghiệp Việt Nam đang suy giảm? Đâu là những điểm yếu mang tính cấu trúc khiến nhiều doanh nghiệp chưa thể tận dụng được đà phục hồi của nền kinh tế?

Đây là một vấn đề cần được nhìn nhận trên nhiều nhiều khía cạnh. Một mặt, trong nền kinh tế thị trường, việc doanh nghiệp gia nhập hay rút lui là hoàn toàn bình thường. Doanh nghiệp suy yếu do mô hình kinh doanh không còn phù hợp, năng suất thấp hoặc không thích ứng được với thị trường sẽ bị đào thải. Về mặt tích cực, sự sàng lọc này, nếu diễn ra trong môi trường cạnh tranh minh bạch, có thể giúp tái phân bổ nguồn lực sang các doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả hơn. Tuy nhiên, khi số doanh nghiệp rút lui duy trì ở quy mô rất lớn, tăng nhanh hơn tốc độ gia nhập thị trường, thì không thể chỉ xem đó là quá trình sàng lọc lành mạnh. Trong 6 tháng đầu năm 2026, bình quân mỗi tháng có gần 25,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng rất cao so với các năm trước đây. Con số này phản ánh sức ép rất đáng kể đối với khu vực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Nếu loại trừ các yếu tố chu kỳ của kinh tế thế giới, làn sóng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và rút lui hiện nay cho thấy khu vực doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều điểm yếu mang tính cấu trúc. Nghị quyết 68-NQ/TW đã chỉ ra khá rõ rằng hầu hết doanh nghiệp tư nhân có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa; tiềm lực tài chính và trình độ quản trị còn hạn chế; phần lớn có năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo thấp; năng suất lao động, hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh chưa cao; liên kết với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI còn hạn chế. Đây là những điểm yếu không thể xử lý bằng các biện pháp hỗ trợ ngắn hạn đơn thuần.

Các khảo sát doanh nghiệp cũng cho thấy khó khăn của khu vực tư nhân không chỉ nằm ở chu kỳ thị trường. Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 của VCCI cho thấy 60,2% doanh nghiệp gặp khó khăn trong tìm kiếm khách hàng, tăng mạnh so với 45,3% năm 2024 và 41% năm 2022; 75,5% doanh nghiệp cho biết không thể vay vốn nếu thiếu tài sản bảo đảm; tỷ lệ khoản vay yêu cầu thế chấp tại Việt Nam lên tới 93,5%. Đây là những bằng chứng cho thấy doanh nghiệp không chỉ thiếu cầu thị trường, mà còn thiếu năng lực tiếp cận nguồn lực để phục hồi và mở rộng.

Tôi cho rằng có bốn điểm yếu cấu trúc nổi bật: Thứ nhất là quy mô doanh nghiệp quá nhỏ, vốn mỏng, khả năng tích lũy thấp nên khó chống chịu khi chi phí tăng hoặc đơn hàng giảm; Thứ hai là năng lực quản trị tài chính, quản trị dòng tiền, quản trị rủi ro và minh bạch thông tin còn hạn chế, khiến doanh nghiệp khó tiếp cận vốn chính thức; Thứ ba là trình độ công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn thấp, làm giảm năng suất và biên lợi nhuận; Thứ tư là liên kết chuỗi giá trị yếu, khiến nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận đơn hàng ổn định, khó tham gia sâu vào mạng lưới cung ứng của doanh nghiệp lớn và FDI.

Do đó, hiện tượng doanh nghiệp rút lui vừa phản ánh quá trình sàng lọc của thị trường, vừa phản ánh sức chống chịu chưa đủ mạnh của khu vực doanh nghiệp trong nước. Nếu coi đây chỉ là sàng lọc tự nhiên thì sẽ đánh giá thấp rủi ro; nhưng nếu coi đây hoàn toàn là khủng hoảng thì cũng chưa chính xác. Cách nhìn phù hợp hơn là: thị trường đang sàng lọc mạnh hơn, trong khi năng lực nền tảng của nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ để vượt qua quá trình sàng lọc đó.

Thời gian qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và đặc biệt là Nghị quyết 68 xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Theo ông, khoảng cách lớn nhất hiện nay nằm ở thiết kế chính sách hay ở khâu thực thi? Doanh nghiệp đang thực sự thiếu điều gì nhất: Vốn, thị trường, công nghệ, nguồn nhân lực hay một môi trường kinh doanh minh bạch và chi phí tuân thủ thấp hơn?

Theo tôi, khoảng cách lớn nhất hiện nay nằm ở khâu thực thi chính sách, nhưng không thể tách rời chất lượng thiết kế chính sách. Chủ trương của Nghị quyết 68-NQ/TW là rất chính xác khi xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, đây là bước chuyển rất quan trọng về nhận thức và định hướng chính sách.

Tuy nhiên, từ nghị quyết đến chuyển biến thực tế là một quá trình dài. Doanh nghiệp không chỉ cần chính sách đúng trên văn bản, mà cần chính sách được thực thi nhanh, nhất quán, minh bạch và đo được bằng kết quả cụ thể. Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 và Báo cáo Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2025 của VCCI cũng chỉ ra khoảng cách thực thi thường nằm ở các khâu: thủ tục còn phức tạp; cách hiểu chính sách giữa các địa phương chưa thống nhất; cơ chế phối hợp liên ngành chưa thông suốt; doanh nghiệp khó tiếp cận thông tin; và trách nhiệm giải trình chưa đủ rõ khi chính sách chậm đi vào cuộc sống.

Nếu hỏi doanh nghiệp đang thiếu gì nhất, tôi cho rằng doanh nghiệp đang thiếu thốn không chỉ một yếu tố từ vốn, thị trường, công nghệ hay nhân lực, mà cái họ đang thiếu nhất hiện nay là một hệ sinh thái phát triển đồng bộ. Vốn rất quan trọng, nhưng có vốn mà không có thị trường thì doanh nghiệp cũng không mở rộng được. Có thị trường mà thiếu công nghệ và nhân lực thì khó nâng năng suất. Có công nghệ mà môi trường kinh doanh thiếu minh bạch, chi phí tuân thủ cao thì doanh nghiệp vẫn ngại đầu tư dài hạn. Vì vậy, điểm nghẽn có tính bao trùm nhất đối với doanh nghiệp là họ cần một môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định, chi phí tuân thủ thấp và khả năng tiếp cận nguồn lực bình đẳng. Nghị quyết 68 cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền cạnh tranh bình đẳng, tạo dựng niềm tin giữa Nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời bảo đảm kinh tế tư nhân tiếp cận bình đẳng các nguồn lực như vốn, đất đai, công nghệ, nhân lực và dữ liệu.

Vì vậy, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn tới cần đi theo hướng tích hợp. Về vốn, cần phát triển tín dụng dựa trên dữ liệu, quỹ bảo lãnh tín dụng, tài chính chuỗi cung ứng, thị trường vốn và các kênh vốn trung - dài hạn. Về thị trường, cần hỗ trợ xúc tiến thương mại, thương mại điện tử, kết nối chuỗi cung ứng và tiêu chuẩn xuất khẩu. Về công nghệ, cần hỗ trợ chuyển đổi số, đổi mới thiết bị, quản trị dữ liệu và chuyển đổi xanh. Về nhân lực, cần gắn đào tạo nghề, đào tạo lại và đào tạo kỹ năng số với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.

Điều quan trọng nhất là chuyển từ tư duy "hỗ trợ doanh nghiệp gặp khó khăn" sang tư duy "nâng năng lực phát triển của doanh nghiệp". Khi môi trường kinh doanh minh bạch hơn, chi phí tuân thủ thấp hơn, nguồn lực tiếp cận bình đẳng hơn và chính sách thực thi nhất quán hơn, doanh nghiệp sẽ tự tin đầu tư dài hạn vào nền kinh tế, kiến tạo nên nền tảng tăng trưởng bền vững trong dài hạn.

Việt Nam đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng ở mức hai con số trong những năm tới. Theo ông, nếu khu vực doanh nghiệp vẫn tiếp tục rút lui với quy mô lớn thì mục tiêu này sẽ chịu tác động như thế nào? Đâu là những cải cách mang tính đột phá cần được ưu tiên ngay từ bây giờ để vừa nâng cao sức chống chịu của doanh nghiệp, vừa tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh nhưng bền vững trong giai đoạn tới?

Như tôi đã nói ở trên, các động lực tăng trưởng từ đầu tư công hay khu vực FDI không thể kéo dài mãi mãi được. Nguồn lực của nhà nước là có hạn còn các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài sẽ rút vốn khi lợi ích của họ không còn được đảm bảo. Về dài hạn, nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và bền vững phải dựa vào một khu vực doanh nghiệp trong nước đủ mạnh, có khả năng tạo việc làm, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường, tăng năng suất và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Theo Nghị quyết 68, khu vực kinh tế tư nhân hiện đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động. Do đó, nếu doanh nghiệp tư nhân trong nước yếu đi, tác động không chỉ nằm ở tăng trưởng GDP, mà còn ở việc làm, thu nhập, thu ngân sách, đổi mới sáng tạo và sức chống chịu xã hội. Vì vậy, khi doanh nghiệp rút lui không chỉ làm mất đi sản lượng hiện tại, mà còn làm mất đi năng lực tăng trưởng trong tương lai. Một doanh nghiệp đóng cửa kéo theo mất việc làm, mất năng lực sản xuất, mất mạng lưới khách hàng, mất kỹ năng tổ chức, mất quan hệ tín dụng và mất cơ hội tích lũy công nghệ. Nếu xu hướng này kéo dài, nền kinh tế sẽ có ít doanh nghiệp đủ sức lớn lên, ít doanh nghiệp dẫn dắt hơn và khả năng đạt tăng trưởng hai con số sẽ khó khăn hơn nữa.

Theo tôi, có 05 nhóm cải cách cần ưu tiên ngay từ bây giờ.

Thứ nhất là cải cách thể chế vi mô theo hướng giảm mạnh chi phí tuân thủ. Cần rà soát các thủ tục về đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường, phòng cháy chữa cháy, thuế, kiểm tra chuyên ngành và thanh tra doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần một môi trường pháp lý ổn định, minh bạch, dễ dự báo, trong đó rủi ro chính sách và rủi ro thực thi được giảm xuống mức thấp nhất.

Thứ hai là khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Không thể yêu cầu doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và mở rộng sản xuất nếu họ chỉ tiếp cận được vốn ngắn hạn với yêu cầu tài sản bảo đảm quá cao. Cần phát triển quỹ bảo lãnh tín dụng, tín dụng dựa trên dòng tiền và dữ liệu, tài chính chuỗi cung ứng, cho thuê tài chính, thị trường trái phiếu doanh nghiệp lành mạnh, quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ đổi mới công nghệ.

Thứ ba là nâng cấp năng lực công nghệ và quản trị của doanh nghiệp. Nghị quyết 68 đã đặt yêu cầu khu vực tư nhân là lực lượng tiên phong trong khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời cho phép nhiều cơ chế hỗ trợ như tính chi phí nghiên cứu và phát triển ở mức ưu đãi, trích lập quỹ phát triển khoa học - công nghệ, hỗ trợ chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Vấn đề là các chính sách này phải được thiết kế hiệu quả để doanh nghiệp có thể tiếp cận thực chất.

Thứ tư là phát triển thị trường và chuỗi giá trị cho doanh nghiệp trong nước. Nhà nước không thể thay doanh nghiệp tìm khách hàng, nhưng có thể hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường, tiêu chuẩn kỹ thuật, chứng nhận chất lượng, truy xuất nguồn gốc, kết nối FDI, thương mại điện tử xuyên biên giới và các nền tảng xúc tiến thương mại. Mục tiêu không chỉ là giúp doanh nghiệp bán được hàng, mà là giúp họ nâng vị trí trong chuỗi cung ứng.

Thứ năm là hình thành cơ chế theo dõi sức khỏe doanh nghiệp thường xuyên hơn. Không nên chỉ nhìn số doanh nghiệp thành lập mới, mà cần theo dõi tỷ lệ doanh nghiệp sống sót sau từng giai đoạn 3 năm, 5 năm; tỷ lệ doanh nghiệp có lãi; năng suất lao động; khả năng tiếp cận vốn; khả năng đổi mới công nghệ; tỷ lệ tham gia chuỗi cung ứng; và mức độ hài lòng với môi trường kinh doanh. Cải cách phải được đo bằng sức khỏe doanh nghiệp, không chỉ bằng số lượng văn bản cải cách.

Tóm lại, nếu doanh nghiệp tiếp tục rút lui quy mô lớn, mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ mất đi một nền tảng rất quan trọng. Muốn tăng trưởng nhanh nhưng bền vững, chúng ta cần tập trung nâng cao chất lượng và sức chống chịu của doanh nghiệp, chứ không chỉ đơn thuần tăng số lượng doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp có môi trường kinh doanh minh bạch hơn, vốn dài hạn hơn, công nghệ tốt hơn, nhân lực phù hợp hơn và thị trường rộng hơn, tăng trưởng hai con số mới có nền tảng thực chất thay vì chỉ là mục tiêu ngắn hạn.

Xin cảm ơn ông! 

Kim Oanh

TIN LIÊN QUAN
















Home Icon VỀ TRANG CHỦ