Đổi mới mô hình phát triển
Nền tảng vững chắc nhưng còn điểm nghẽn
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 168/NQ-CP cập nhật kịch bản tăng trưởng 2026 và giai đoạn 2026-2030. Theo báo cáo của các bộ, ngành và địa phương, GDP cả năm 2026 hiện được dự báo tăng khoảng 8,7%. Để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 10% mà Chính phủ đề ra, nền kinh tế cần đạt mức tăng trưởng 11,9% trong 6 tháng cuối năm. Rõ ràng để đạt được mục tiêu trên, mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào vốn, tài nguyên thiên nhiên và lao động có kỹ năng thấp không thể đáp ứng được yêu cầu này.
Giáo sư Merit Janow của Đại học Columbia nhận định, mô hình tăng trưởng trước đây giúp Việt Nam vươn lên từ một nền kinh tế có xuất phát điểm thấp để trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất toàn cầu. Nhưng khi dòng vốn mới đang tìm đến những quốc gia có thể kết hợp được độ mở với thể chế mạnh, lao động có kỹ năng, hạ tầng hiện đại và một tầm nhìn đủ rõ cho tương lai, Việt Nam không thể tiếp tục đi lên chỉ bằng những lợi thế quen thuộc. Thay vào đó, quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển mới phải dựa chủ yếu vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tăng trưởng 2 con số, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng cũng khẳng định, Việt Nam không thể đi theo lối mòn cũ, tư duy cũ, cách làm cũ, mà phải có “Tầm nhìn chiến lược - Tư duy đột phá - Hành động quyết liệt - Tăng trưởng bền vững - Nhân dân hạnh phúc”. Trong đó, thi đua đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh... Đây là động lực chính, là trụ cột quan trọng nhất, là nền tảng chiến lược để nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh quốc gia. Mỗi bộ, ngành, địa phương cần hình thành các mô hình mới, trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao, chính quyền số, xã hội số, công dân số; tạo môi trường thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp phát triển.
Động lực để thay đổi này diễn ra khi nền kinh tế đã có những nền tảng đáng kể khi bước đầu được cơ cấu lại theo hướng số hóa, xanh hóa, đa dạng hóa, tăng cường sức chống chịu, nâng cấp chuỗi giá trị dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Tốc độ tăng trưởng kinh tế số bình quân giai đoạn 2021 - 2025 đạt 9,8%/năm, chiếm trên 14% GDP năm 2025; tỷ lệ người dân trưởng thành có tài khoản thanh toán chiếm trên 87%, vượt chỉ tiêu đề ra (80%), thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phổ biến.
Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng bình quân 6,4%/năm. Công nghiệp chế biến, chế tạo có mức tăng trưởng khá, nhất là các ngành chủ lực như điện tử, dệt may, da giày, đồ gỗ...; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP tăng từ 23,9% năm 2020 lên khoảng 24,5% năm 2025; giá trị tăng thêm công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân đầu người đạt trên 1.230 USD. Việt Nam đã hình thành một số ngành công nghiệp có quy mô lớn, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, từng bước hình thành năng lực tự chủ của nền kinh tế. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia hình thành, ngày càng phát triển; mức độ sẵn sàng về công nghệ của Việt Nam đang tăng lên... đưa nước ta vào nhóm những quốc gia có nền kinh tế số tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á.
Nhưng chính từ nền tảng đó, những giới hạn cũng hiện ra rõ hơn. PGS.TS. Vũ Văn Phúc, nguyên Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương phân tích, tốc độ chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế còn chậm so với yêu cầu đặt ra; khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa trở thành động lực chính cho phát triển kinh tế, tăng năng suất lao động; chưa hình thành được năng lực nội sinh đủ mạnh để phát huy vai trò của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số…

Doanh nghiệp công nghệ không chỉ kinh doanh mà còn phải trở thành lực lượng kiến tạo năng lực cạnh tranh mới cho nền kinh tế
Thể chế tạo đà, doanh nghiệp bứt tốc
Giáo sư Merit Janow cho rằng, Việt Nam cần xây dựng khung chính sách và cơ chế thử nghiệm đủ linh hoạt, vừa quản lý được an toàn, vừa tiếp sức cho công nghệ mới phát triển, thay vì e ngại rủi ro. Nếu ngoại giao kinh tế giúp mở thị trường và thu hút đầu tư thì ngoại giao công nghệ giúp kết nối Việt Nam với mạng lưới đổi mới sáng tạo, nguồn tri thức, quỹ đầu tư, doanh nghiệp công nghệ và các chuẩn mực quốc tế, qua đó tạo vị thế mới trong chuỗi giá trị toàn cầu. Điều quan trọng là thước đo thành công của mô hình tăng trưởng mới sẽ giúp năng suất lao động tăng lên, FDI lan tỏa công nghệ vào nội địa, doanh nghiệp Việt có tiến sâu hơn vào chuỗi cung ứng và R&D tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao và lâu dài, Giáo sư Merit Janow nhấn mạnh.
Để tránh đi theo “lối mòn”, cộng đồng doanh nghiệp công nghệ sẽ trở thành lực lượng kiến tạo năng lực cạnh tranh mới cho nền kinh tế. Đây không chỉ là bài toán kinh doanh, mà còn là yêu cầu tự cường để bảo vệ chủ quyền số quốc gia.
Bà Nguyễn Thị Thu Giang, Phó chủ tịch, kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam (VINASA) gợi ý, cộng đồng công nghệ trích lập lợi nhuận từ hoạt động thương mại để đầu tư mạnh cho R&D, mở lối vào 4 không gian phát triển mới mang tính chiến lược. Trong đó, doanh nghiệp Việt cần đầu tư nghiên cứu các mô hình AI chuyên sâu nhằm nâng cấp những ngành kinh tế xương sống, gia tăng giá trị hàng hóa nội địa trong chuỗi cung ứng toàn cầu, thay vì chỉ dừng lại ở các ứng dụng đơn giản như nhận diện hay quản lý bán hàng; làm chủ hệ điều hành không lưu, thiết kế hệ sinh thái thiết bị bay không người lái (UAV) công nghiệp “Make in Vietnam” để khai thác không phận kinh tế mới. Các doanh nghiệp an ninh mạng cần sớm nghiên cứu và ứng dụng mật mã hậu lượng tử (PQC), tạo lớp bảo vệ mới cho chủ quyền số quốc gia trước làn sóng điện toán lượng tử…
Hương Giang
5 giờ trước
23 giờ trước
6 ngày trước
6 ngày trước
10 ngày trước
11 ngày trước
11 ngày trước
13 ngày trước
17 ngày trước
19 ngày trước
20 ngày trước
5 phút trước
8 phút trước
6 phút trước
6 phút trước
6 phút trước
6 phút trước
7 phút trước
7 phút trước
10 phút trước
12 phút trước
13 phút trước
14 phút trước