🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Giáo dục trong 'đường băng' tăng trưởng hai con số: Bắt đầu từ nguồn nhân lực

3 giờ trước
Trong kỷ nguyên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, con người không chỉ là trung tâm mà còn là yếu tố quyết định thành bại của mọi chiến lược phát triển.

Sinh viên Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng). Ảnh: NTCC

Theo các chuyên gia giáo dục, nguồn nhân lực chất lượng cao hiện vừa là điểm nghẽn, vừa là đòn bẩy quan trọng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.

Khẳng định vai trò nhân tố con người

Theo GS.TS Ngô Thị Phương Lan - Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TPHCM, trong bối cảnh nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, đang đầu tư mạnh cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cần nhìn nhận rõ rằng công nghệ tự thân không tạo ra giá trị nếu thiếu đội ngũ con người có đủ năng lực để nghiên cứu, vận hành, làm chủ và tiếp tục phát triển công nghệ.

Nguy cơ lớn nhất không phải đầu tư ít, mà là đầu tư lớn nhưng hiệu quả khai thác không tương xứng. Các quốc gia có thể nhanh chóng xây dựng trung tâm nghiên cứu hiện đại, trang bị phòng thí nghiệm tiên tiến hay triển khai các hệ thống số với chi phí lớn.

Tuy nhiên, để hình thành đội ngũ nhà khoa học, kỹ sư, chuyên gia quản lý và người lao động có đủ năng lực nghiên cứu, làm chủ và sáng tạo trên nền tảng công nghệ đó lại là quá trình tích lũy dài hơi, đòi hỏi nhiều năm, thậm chí nhiều thập niên.

Theo GS.TS Ngô Thị Phương Lan, từ truyền thống trọng dụng hiền tài trong lịch sử đến cuộc cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao mang tính toàn cầu hiện nay, bài học cốt lõi vẫn không thay đổi: Thành công của mọi công cuộc phát triển cuối cùng đều phụ thuộc vào con người. Công nghệ có thể mua sắm, hạ tầng được xây dựng, nhưng nhân tài phải phát hiện, đào tạo, thu hút và tạo điều kiện để cống hiến. Vì vậy, đầu tư cho con người cần xác định là chiến lược phát triển quốc gia mang tính nền tảng và lâu dài.

Thực tiễn thế giới cho thấy khoảng cách giữa sở hữu công nghệ và làm chủ công nghệ là rất lớn. Một quốc gia có thể mua được máy móc, phần mềm hay các giải pháp kỹ thuật hiện đại, nhưng không thể mua được năng lực sáng tạo, tư duy nghiên cứu và chất lượng nguồn nhân lực.

Nếu thiếu đội ngũ nhân lực đủ trình độ, quốc gia đó sẽ chỉ dừng lại ở vị trí người sử dụng công nghệ thay vì trở thành người tạo ra công nghệ. Khi đó, các khoản đầu tư lớn sẽ khó tạo ra giá trị gia tăng cao và khó chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh thực sự của nền kinh tế.

Đặc biệt, trong thời đại trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số, yêu cầu đối với nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ dừng lại ở năng lực chuyên môn kỹ thuật mà còn bao gồm tư duy sáng tạo, năng lực nghiên cứu, kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy hệ thống, khả năng hợp tác liên ngành và thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ. GS.TS Ngô Thị Phương Lan khẳng định, chính những năng lực này quyết định việc công nghệ được khai thác ở mức độ nào và có thể tạo ra những đột phá mới hay không.

“Đầu tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao là khoản đầu tư chiến lược và bền vững nhất. Hạ tầng công nghệ có thể tạo ra điều kiện phát triển, nhưng chính con người mới quyết định khả năng biến những điều kiện đó thành năng lực cạnh tranh và động lực tăng trưởng. Mọi thành tựu của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đều khởi nguồn từ con người, do con người vận hành và hướng tới phục vụ con người. Vì thế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển quốc gia”, GS.TS Ngô Thị Phương Lan khẳng định.

Cùng quan điểm, PGS.TS Võ Văn Minh - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng), cho rằng trong giai đoạn Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xem là những động lực tăng trưởng mới. Tuy nhiên, phía sau mọi công nghệ, nền tảng số và mô hình đổi mới sáng tạo cuối cùng vẫn là con người.

“Khoa học công nghệ không tự vận hành. Chuyển đổi số không tự tạo ra giá trị. Đổi mới sáng tạo càng không thể hình thành chỉ bằng khẩu hiệu hay đầu tư tài chính đơn thuần. Tất cả phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực”, PGS.TS Võ Văn Minh nhấn mạnh.

Theo ông, trong bối cảnh thế giới bước vào thời đại trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, vật liệu mới và kinh tế xanh, khoảng cách giữa các quốc gia không còn chủ yếu nằm ở tài nguyên thiên nhiên hay lao động giá rẻ mà ở chất lượng con người và năng lực sáng tạo tri thức mới. Quốc gia nào sở hữu đội ngũ nhân lực chất lượng cao, quốc gia đó sẽ nắm lợi thế cạnh tranh chiến lược.

Cù Ngọc Phương và sinh viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Ảnh: NTCC

Điểm nghẽn và đòn bẩy tăng trưởng

Theo PGS.TS Võ Văn Minh, nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay vừa là “điểm nghẽn”, vừa là “đòn bẩy” của tăng trưởng kinh tế.

Đây là điểm nghẽn bởi nhiều lĩnh vực chiến lược của Việt Nam đang thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ nhân lực trình độ cao, đặc biệt trong các ngành khoa học cơ bản, công nghệ lõi, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng mới và chuyển đổi số. Không ít địa phương, doanh nghiệp, thậm chí cả cơ sở giáo dục đại học gặp khó khăn trong việc tìm kiếm đội ngũ đủ năng lực triển khai các mô hình phát triển mới.

Một nghịch lý đang tồn tại là chúng ta có thể nhập khẩu công nghệ, đầu tư hạ tầng số với nguồn lực lớn nhưng lại thiếu đội ngũ đủ năng lực vận hành, nghiên cứu, cải tiến và làm chủ công nghệ. Khi đó, hiệu quả đầu tư sẽ thấp, thậm chí dẫn đến lãng phí nguồn lực.

PGS.TS Võ Văn Minh nhận định, thực tế thời gian qua cho thấy vẫn tồn tại những dự án đầu tư công nghệ quy mô lớn nhưng hiệu quả khai thác chưa tương xứng với nguồn lực bỏ ra. Có nơi đầu tư hệ thống hiện đại nhưng không sử dụng hết công năng; có nơi triển khai nhanh về hình thức nhưng thiếu chiều sâu trong vận hành và kết nối thực tiễn. Điều đó cho thấy vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở công nghệ hay thiết bị mà nằm ở chất lượng nguồn nhân lực.

Ở góc nhìn khác, GS.TS Ngô Thị Phương Lan cho rằng để đạt mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào lợi thế lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên hay mở rộng vốn đầu tư như trước đây. Động lực tăng trưởng đang chuyển mạnh sang khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, mọi thành tựu công nghệ hay mô hình phát triển mới đều phải được kiến tạo, vận hành và lan tỏa bởi con người.

GS.TS Ngô Thị Phương Lan nhìn nhận, nguồn nhân lực trở thành điểm nghẽn bởi đây là yếu tố khó hình thành nhất và cần thời gian dài để tích lũy. Trong nhiều năm, chúng ta chú trọng đào tạo kiến thức và kỹ năng chuyên môn nhưng chưa đầu tư tương xứng cho những năng lực nền tảng như tư duy phản biện, năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng, năng lực hợp tác và lãnh đạo trong môi trường toàn cầu.

Bên cạnh đó, cơ chế sử dụng, đãi ngộ nhân tài, môi trường nghiên cứu và làm việc cũng ảnh hưởng đến khả năng phát huy tối đa tiềm năng của nguồn nhân lực chất lượng cao. Thực tế cho thấy người Việt Nam luôn được đánh giá cao về năng lực học tập, sáng tạo và thích ứng, nhưng chúng ta vẫn chưa khai thác hết nguồn lực quý giá này cho sự phát triển đất nước.

Tuy nhiên, khi giải quyết được điểm nghẽn này, nguồn nhân lực sẽ trở thành đòn bẩy mạnh mẽ nhất cho tăng trưởng. Trong thời đại kinh tế tri thức, nhân lực chất lượng cao không chỉ là những người giỏi chuyên môn hay làm chủ công nghệ mà còn là những người có khả năng tư duy độc lập, đổi mới sáng tạo, làm việc trong môi trường đa văn hóa và thích ứng nhanh với những biến động liên tục của thế giới.

Chính những con người như vậy sẽ tạo ra công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới, phương thức quản trị mới và những giá trị mới cho xã hội.

Theo GS.TS Ngô Thị Phương Lan, các chủ trương lớn hiện nay về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực chất đều đặt con người ở vị trí trung tâm. Những chính sách đột phá về đào tạo nhân lực cho các ngành công nghệ chiến lược, công nghệ lõi cùng các chương trình học bổng, đào tạo gắn với nghiên cứu và đổi mới giáo dục đại học đều hướng tới mục tiêu tháo gỡ điểm nghẽn này.

“Công nghệ có thể được chuyển giao, vốn có thể được huy động, nhưng nguồn nhân lực chất lượng cao không thể hình thành trong một sớm một chiều. Muốn hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, điều quan trọng nhất là xây dựng được một thế hệ công dân, nhà khoa học, doanh nhân và nhà quản lý có đủ năng lực, bản lĩnh, tư duy đổi mới và tinh thần cống hiến. Vì vậy, đầu tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là đầu tư cho giáo dục mà chính là đầu tư cho năng lực cạnh tranh cốt lõi và tương lai trường tồn của quốc gia”, GS.TS Ngô Thị Phương Lan nhấn mạnh.

Lễ trao bằng tốt nghiệp tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TPHCM. Ảnh: NTCC

Phát triển con người phải trở thành chiến lược quốc gia

Từ góc độ giáo dục đại học, PGS.TS Võ Văn Minh cho rằng muốn tăng trưởng nhanh và bền vững phải bắt đầu từ chiến lược phát triển con người. Đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành Giáo dục mà cần trở thành chiến lược quốc gia.

Theo ông, cần nhìn nhận lại vai trò của khoa học cơ bản và đào tạo giáo viên. Nếu khoa học công nghệ là “động cơ” thì khoa học cơ bản chính là “nền móng” tạo ra tri thức gốc, còn giáo viên là lực lượng quyết định chất lượng nguồn nhân lực tương lai. Một quốc gia muốn phát triển lâu dài không thể chỉ chú trọng đào tạo kỹ năng ngắn hạn mà xem nhẹ nền tảng khoa học cơ bản và chất lượng đội ngũ nhà giáo.

Trong bối cảnh mới, các trường đại học không thể chỉ là nơi đào tạo và cấp bằng mà phải trở thành trung tâm kiến tạo tri thức, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ cho xã hội. Đại học cần gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp, địa phương và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; đồng thời đi đầu trong chuyển đổi số, nghiên cứu khoa học và phát triển nguồn nhân lực chiến lược.

TS Cù Ngọc Phương - Trưởng khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành cũng khẳng định, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải được xem như khoản đầu tư chiến lược, không phải chi phí phụ trợ. Đầu tư ấy phải đi trước, đi cùng và đi sau đầu tư công nghệ. Đi trước để chuẩn bị năng lực hấp thụ. Đi cùng để vận hành và tối ưu. Đi sau để tiếp tục nghiên cứu, cải tiến và sáng tạo.

Nội dung đầu tư cần bao gồm đổi mới giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; gắn đào tạo với nghiên cứu, doanh nghiệp và thị trường lao động; phát triển năng lực số, ngoại ngữ, tư duy phản biện, năng lực liên ngành; bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia công nghệ; tạo cơ chế trọng dụng nhân tài; đồng thời xây dựng văn hóa học tập suốt đời để người lao động có thể liên tục tái đào tạo, thích ứng.

Nói cách khác, muốn đầu tư công nghệ có hiệu quả, trước hết phải đầu tư vào chủ thể làm chủ công nghệ. Muốn chuyển đổi số thành công thì phải chuyển đổi năng lực con người. Muốn đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng thì phải hình thành những con người có tri thức, bản lĩnh, đạo đức và khát vọng sáng tạo.

Trong giai đoạn mới, lợi thế phát triển không thuộc về nơi sở hữu nhiều công nghệ nhất, mà thuộc về nơi có nhiều con người đủ năng lực biến công nghệ thành tri thức, tri thức thành sáng tạo và sáng tạo thành giá trị phát triển bền vững.

“Có thể nói, một nền giáo dục tiến bộ không chỉ chuẩn bị người học cho một nghề nghiệp cụ thể, mà chuẩn bị cho họ năng lực sống và làm việc trong một thế giới luôn biến đổi: Biết học, biết nghĩ, biết làm, biết hợp tác, biết sáng tạo và biết chịu trách nhiệm. Đó là nền tảng để khoa học công nghệ không trở thành sự phô diễn hình thức, chuyển đổi số không dừng ở số hóa bề mặt, đổi mới sáng tạo không chỉ là khẩu hiệu, mà trở thành sức mạnh thật sự của tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững”, TS Cù Ngọc Phương cho hay.

PGS.TS Võ Văn Minh khẳng định, mục tiêu tăng trưởng hai con số là khát vọng lớn nhưng để đạt được một cách bền vững, Việt Nam cần chiến lược phát triển nguồn nhân lực đủ tầm cho thời đại mới - những con người không chỉ biết sử dụng công nghệ mà còn có khả năng sáng tạo công nghệ, làm chủ tri thức và dẫn dắt sự phát triển của đất nước.

Nguyễn Nhung

TIN LIÊN QUAN






























Home Icon VỀ TRANG CHỦ