Điều chỉnh giá điện theo tín hiệu thị trường: Minh bạch hơn, linh hoạt hơn
Giá điện phải phản ánh đúng chi phí
Văn bản hợp nhất số 68/2026/VBHN-BCT hợp nhất các quy định tại Nghị định số 72/2025/NĐ-CP và những nội dung sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 278/2026/NĐ-CP, áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động điện lực hoặc sử dụng điện.
Điểm xuyên suốt của văn bản là khẳng định nguyên tắc giá bán lẻ điện bình quân được xác định trên cơ sở tổng chi phí sản xuất, kinh doanh điện cùng mức lợi nhuận hợp lý trên mỗi kWh điện thương phẩm trong từng thời kỳ.
Theo đó, việc điều chỉnh giá điện phải bám sát diễn biến thực tế của các yếu tố đầu vào, phản ánh đầy đủ chi phí hợp lý phát sinh trong các khâu phát điện, truyền tải, phân phối, bán lẻ, điều độ vận hành hệ thống điện và điều hành giao dịch thị trường điện lực, đồng thời bảo đảm mục tiêu bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp điện lực trên nguyên tắc công khai, minh bạch.

Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ điều hành giá điện theo hướng minh bạch, linh hoạt và bám sát tín hiệu thị trường. (Ảnh minh họa)
Trong bối cảnh giá than, khí, LNG nhập khẩu, tỷ giá ngoại tệ và nhiều yếu tố đầu vào của ngành điện liên tục biến động, việc xây dựng cơ chế để giá bán lẻ điện phản ánh sát hơn chi phí thực tế được đánh giá là cần thiết. Điều này không chỉ góp phần bảo đảm cân đối tài chính của ngành điện mà còn tạo cơ sở huy động nguồn lực đầu tư vào các dự án nguồn và lưới điện.
Theo quy định, giá điện được xem xét hằng năm trên cơ sở chi phí sản xuất, kinh doanh điện đã được kiểm toán và tiếp tục cập nhật định kỳ trong năm theo biến động của giá nhiên liệu, chi phí mua điện cùng các yếu tố đầu vào khác. Cách tiếp cận này giúp giá bán lẻ điện phản ánh sát diễn biến thị trường, hạn chế tình trạng chi phí tăng hoặc giảm kéo dài nhưng chưa được cập nhật vào giá điện.
Phân cấp rõ trách nhiệm, minh bạch hơn trong điều hành giá
Một trong những điểm đáng chú ý của cơ chế hiện hành là quy định rõ thẩm quyền điều chỉnh theo từng mức biến động.
Nếu kết quả tính toán cho thấy giá điện giảm từ 1% trở lên, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) được điều chỉnh giảm theo quy định. Trường hợp giá điện cần tăng từ 2% đến dưới 5%, EVN được quyết định điều chỉnh sau khi Bộ Công Thương kiểm tra, rà soát và có ý kiến bằng văn bản.
Đối với mức tăng từ 5% đến dưới 10%, EVN được điều chỉnh sau khi có văn bản chấp thuận của Bộ Công Thương. Riêng trường hợp mức tăng từ 10% trở lên, Bộ Công Thương chủ trì kiểm tra, lấy ý kiến các bộ, ngành liên quan trước khi báo cáo Chính phủ xem xét; khi cần thiết sẽ báo cáo Ban Chỉ đạo điều hành giá.
Việc phân định thẩm quyền theo từng ngưỡng biến động giúp rút ngắn quy trình xử lý đối với các trường hợp điều chỉnh nhỏ, đồng thời vẫn bảo đảm sự kiểm soát của Nhà nước đối với những đợt tăng giá có tác động lớn đến kinh tế vĩ mô.
Không chỉ quy định về thẩm quyền, Văn bản hợp nhất còn đặt ra yêu cầu cao hơn về tính minh bạch trong xây dựng phương án giá. Theo đó, EVN phải cập nhật đầy đủ các thông số đầu vào theo định kỳ; hồ sơ phương án giá phải làm rõ nguyên tắc tính toán, giá nhiên liệu, tỷ giá, chi phí từng khâu và các khoản chi phí chưa được tính vào giá điện. Việc công khai cơ sở tính toán, cùng với số liệu được kiểm toán, góp phần nâng cao tính minh bạch và tạo cơ sở để cơ quan quản lý đánh giá phương án điều chỉnh.
Hướng tới thị trường điện minh bạch và cạnh tranh hơn
Một điểm đáng chú ý khác là thời gian tối thiểu giữa hai lần điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân vẫn được giữ ở mức 3 tháng. Khoảng thời gian này vừa tạo điều kiện cập nhật biến động chi phí đầu vào, vừa hạn chế việc giá điện thay đổi quá thường xuyên, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân.
Ở chiều ngược lại, việc xem xét điều chỉnh theo chu kỳ rõ ràng cũng giúp hạn chế tình trạng "dồn tích" chi phí trong thời gian dài. Khi chi phí đầu vào được phản ánh kịp thời hơn, biên độ điều chỉnh giá điện sẽ hợp lý hơn, giảm nguy cơ xuất hiện những đợt tăng giá lớn sau thời gian dài giữ nguyên giá.
Đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều điện, cơ chế này giúp nâng cao khả năng dự báo chi phí sản xuất, chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh và quản trị rủi ro trong bối cảnh giá năng lượng thế giới còn nhiều biến động.
Trong bối cảnh Việt Nam từng bước hoàn thiện thị trường điện cạnh tranh, một cơ chế giá phản ánh đúng chi phí và được điều hành minh bạch sẽ là nền tảng quan trọng để thu hút đầu tư, bảo đảm an ninh năng lượng và nâng cao hiệu quả vận hành của ngành điện.
Có thể thấy, Văn bản hợp nhất số 68 không chỉ hệ thống hóa các quy định hiện hành mà còn tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ điều hành giá điện theo hướng minh bạch, linh hoạt và bám sát tín hiệu thị trường. Đây là nền tảng quan trọng để hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp điện lực và người sử dụng điện, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường điện Việt Nam.
Huy Tùng
7 phút trước
7 giờ trước
1 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
3 giờ trước