🔍
Chuyên mục: Nghệ thuật

Để di sản thực sự sống

9 giờ trước
HNN - Huế từ lâu được nhắc đến là vùng đất của di sản. Nếu Quần thể di tích Cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình, Mộc bản, Châu bản Triều Nguyễn hay Thơ văn trên kiến trúc cung đình đã đưa tên tuổi Huế ra thế giới, thì phía sau những danh hiệu ấy còn là một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể phong phú, bền bỉ trong từng nếp nhà, bản làng, phiên chợ, lễ hội và cả trong những món ăn bình dị hằng ngày.

Biểu diễn Nhã nhạc trước điện Kiến Trung. Ảnh: Liên Minh

Việc thành phố Huế giao Sở Văn hóa và Thể thao tham mưu xây dựng “Đề án quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn hóa phi vật thể quốc gia” là một bước đi đúng lúc. Đây không chỉ là yêu cầu từ Luật Di sản văn hóa năm 2024, mà còn là sự chủ động cần thiết trong tiến trình xây dựng Huế trở thành đô thị di sản đặc trưng của Việt Nam.

Huế hiện có 8 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Trong đó, 3 di sản đã có đề án bảo vệ, phát huy giá trị; 5 di sản được đề cập lần này gồm: Nghề dệt dèng của người Tà Ôi, Lễ hội Ada Koonh của người Pa Cô, Lễ hội Bhuôih Haro Tơme của người Cơ Tu, Nghề làm bún Vân Cù và Tri thức dân gian về Bún bò Huế. Các di sản ấy khác nhau về loại hình, không gian và cộng đồng thực hành, nhưng đều gặp nhau ở một điểm cốt lõi: chủ thể của di sản chính là cộng đồng. Không có cộng đồng thực hành, di sản chỉ còn là tư liệu.

Điều quan trọng nhất của bảo tồn hiện nay không chỉ là lưu giữ hiện vật, cũng không phải tổ chức thật nhiều lễ hội, mà là tạo điều kiện để cộng đồng tiếp tục sống cùng di sản, thực hành di sản, sáng tạo cùng di sản và truyền lại cho thế hệ kế tiếp. Một di sản chỉ thật sự sống khi còn hiện diện trong đời sống, trong ký ức, trong lao động, trong sinh kế và trong niềm tự hào của người dân.

Đây cũng là điểm mạnh của dự thảo đề án khi chú trọng kiểm kê, số hóa, truyền dạy, hỗ trợ nghệ nhân, đưa di sản vào trường học, gắn di sản với du lịch cộng đồng. Đó là những giải pháp phù hợp với xu thế quản lý di sản hiện đại. Tuy nhiên, để đề án đi vào thực tiễn sâu hơn, vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số nội dung.

Trước hết, cần lượng hóa các mục tiêu. Một đề án muốn khả thi phải có chỉ tiêu cụ thể: bao nhiêu nghệ nhân được hỗ trợ, bao nhiêu lớp truyền dạy được tổ chức, bao nhiêu trường học đưa di sản vào hoạt động giáo dục, bao nhiêu tư liệu được số hóa, bao nhiêu sản phẩm văn hóa - du lịch mới được hình thành. Những con số ấy không làm khô cứng di sản, mà giúp công tác quản lý rõ hơn, trách nhiệm hơn và dễ đánh giá hiệu quả hơn.

Thứ hai, cần coi chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm của bảo tồn. Số hóa không chỉ để lưu trữ, mà còn để mở rộng khả năng tiếp cận của xã hội đối với di sản. Một cơ sở dữ liệu số đầy đủ, kết nối với hệ thống dữ liệu quốc gia, tích hợp hình ảnh, phim tư liệu, bản đồ số, lời kể nghệ nhân, quy trình nghề truyền thống sẽ là nền tảng quý cho nghiên cứu, giáo dục, truyền thông và quảng bá. Di sản khi bước vào không gian số sẽ có thêm đời sống mới, nhất là với thế hệ trẻ.

Thứ ba, phải chăm lo nhiều hơn cho những con người đang gìn giữ di sản. Nghệ nhân không chỉ là người nắm giữ kỹ năng, mà còn là “kho tư liệu sống”. Mỗi nghệ nhân lớn tuổi ra đi có thể mang theo những tri thức không dễ phục dựng. Vì vậy, ngoài chính sách chung, Huế cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp hơn cho nghệ nhân, câu lạc bộ, lớp truyền dạy và các mô hình bảo tồn dựa vào cộng đồng.

Với các lễ hội truyền thống của đồng bào Pa Cô, Cơ Tu, cần đặc biệt giữ gìn không gian văn hóa nguyên gốc. Trong phát triển du lịch, không nên biến nghi lễ thiêng thành tiết mục biểu diễn đơn thuần. Sự hấp dẫn trước mắt không thể đánh đổi bằng sự suy giảm giá trị lâu dài. Du lịch phải phục vụ bảo tồn, chứ không để bảo tồn chạy theo du lịch.

Với Nghề dệt dèng, Nghề làm bún Vân Cù và Tri thức dân gian về Bún bò Huế, hướng đi phù hợp là xây dựng chuỗi giá trị văn hóa. Một tấm dèng, một sợi bún, một tô bún bò không chỉ là sản phẩm tiêu dùng, mà còn là sản phẩm văn hóa. Khi gắn với thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, sở hữu trí tuệ, du lịch trải nghiệm và công nghiệp văn hóa, các di sản ấy sẽ vừa được bảo tồn, vừa tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng.

Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, báo chí cũng cần được xác định là lực lượng quan trọng trong bảo tồn di sản. Báo chí không chỉ phản ánh sự kiện, mà còn kể những câu chuyện về nghệ nhân, làng nghề, lễ hội, những giá trị nhân văn ẩn sau mỗi di sản bằng phim tài liệu, podcast, đồ họa, video ngắn, chuyên trang, chuyên mục và kho dữ liệu số. Khi di sản hiện diện thường xuyên trong truyền thông, di sản sẽ đến gần hơn với công chúng.

Nhìn rộng hơn, Huế đang đứng trước một cơ hội hiếm có. Trở thành thành phố trực thuộc Trung ương không chỉ là thay đổi về vị thế hành chính, mà còn đặt ra yêu cầu kiến tạo một mô hình phát triển mới, trong đó văn hóa phải trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng. Năm di sản được đề cập trong đề án vì thế không nên chỉ được nhìn như những giá trị cần gìn giữ, mà còn là những “tài sản mềm” có khả năng tạo ra giá trị gia tăng.

Một tấm dèng có thể đi vào thiết kế đương đại; lễ hội truyền thống có thể trở thành điểm nhấn du lịch cộng đồng nếu giữ được tính nguyên bản; làng bún Vân Cù có thể trở thành không gian trải nghiệm nghề truyền thống; bún bò Huế hoàn toàn có thể trở thành biểu tượng của ngoại giao văn hóa và thương hiệu ẩm thực Việt Nam.

Đặc biệt, với mô hình Festival bốn mùa, Huế đang có một không gian rộng lớn để di sản được thực hành, giới thiệu và lan tỏa quanh năm. Khi di sản hiện diện trong lễ hội, trường học, du lịch, truyền thông số và đời sống hằng ngày, sức sống của di sản sẽ được nuôi dưỡng tự nhiên và bền vững.

Di sản chỉ thật sự sống khi được cộng đồng thực hành, được thế hệ trẻ tự hào tiếp nối và có thể đóng góp vào đời sống hôm nay. Đó cũng là con đường để Huế khẳng định vị thế của một đô thị di sản đặc trưng, không chỉ của Việt Nam, mà còn từng bước hướng đến một trung tâm văn hóa có tầm vóc của khu vực (châu Á - Thái Bình Dương).

HƯƠNG BÌNH

TIN LIÊN QUAN



























Home Icon VỀ TRANG CHỦ