🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Đặt môi trường, dữ liệu và thể chế làm trụ cột phát triển trong kỷ nguyên mới

2 giờ trước
Dự thảo văn kiện Đại hội XIV đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ trong tư duy phát triển, thể hiện quyết tâm chuyển từ mô hình khai thác sang kiến tạo nguồn lực, đặt phát triển bền vững và bảo vệ môi trường ở vị trí trung tâm

Từ tư duy khai thác sang tư duy kiến tạo nguồn lực

Theo PGS. TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cách tiếp cận về tài nguyên trong Dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV phản ánh rõ bước chuyển căn bản trong tư duy phát triển của Việt Nam. Từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, lao động giá rẻ, nền kinh tế đang được định hướng chuyển sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, khoa học – công nghệ, quản trị hiệu quả và sử dụng tiết kiệm, bền vững các nguồn lực.

PGS. TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường)

“Đây không phải là sự thay đổi mang tính thời điểm mà là kết quả của một quá trình đổi mới tư duy kéo dài từ Đại hội VI đến nay. Trong suốt tiến trình đó, phát triển bền vững từng bước được khẳng định như một trụ cột chiến lược, định hình con đường phát triển dài hạn của đất nước”, PGS. TS Nguyễn Đình Thọ nhấn mạnh.

Nhìn lại chặng đường gần 40 năm đổi mới, PGS. TS Nguyễn Đình Thọ cho rằng mỗi kỳ Đại hội đều phản ánh một nấc thang phát triển mới của đất nước. Ở giai đoạn đầu đổi mới, ưu tiên hàng đầu là giải phóng lực lượng sản xuất, khắc phục khủng hoảng kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh lương thực, ổn định đời sống nhân dân. Trong bối cảnh nguồn lực hạn chế, việc tận dụng tối đa đất đai, lao động và tài nguyên thiên nhiên là lựa chọn tất yếu.

Tuy nhiên đến nay, bối cảnh trong nước và quốc tế đã thay đổi căn bản. Việt Nam không chỉ đứng trước yêu cầu tăng trưởng cao hơn mà còn phải đối mặt với sức ép về môi trường, biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên, già hóa dân số và cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt. Điều này đòi hỏi một tư duy phát triển mới, vượt ra khỏi logic “khai thác – tiêu dùng – tăng trưởng”.

“Đại hội XIV được nhìn nhận như một bước chuyển về chất trong tư duy phát triển, khi khái niệm tài nguyên không còn bó hẹp trong phạm vi đất đai, khoáng sản hay lao động phổ thông, mà được mở rộng sang các yếu tố phi vật chất có khả năng tạo ra giá trị gia tăng dài hạn và bền vững cho nền kinh tế”, PGS. TS Nguyễn Đình Thọ chia sẻ.

Theo đó, tài nguyên được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm dữ liệu số, chất lượng thể chế, năng lực quản trị, khả năng đổi mới sáng tạo, giá trị văn hóa, niềm tin xã hội và nguồn lực con người. Cách tiếp cận này phản ánh sự dịch chuyển của Việt Nam sang mô hình phát triển dựa trên tri thức và công nghệ, trong đó giá trị không chỉ đến từ “lấy nhiều” mà từ “làm tốt” và “làm thông minh”.

PGS. TS Nguyễn Đình Thọ phân tích, thế giới hiện nay đang vận động rất nhanh, với đặc trưng là bất định, phức tạp và khó dự báo. Các cú sốc toàn cầu về dịch bệnh, xung đột địa chính trị, biến đổi khí hậu, đứt gãy chuỗi cung ứng hay chuyển dịch công nghệ diễn ra ngày càng thường xuyên và sâu rộng.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam không thể chỉ dừng ở trạng thái thích nghi thụ động. “Yêu cầu đặt ra là phải chủ động định hình con đường phát triển của mình, nâng tầm tư duy sử dụng tài nguyên từ khai thác đơn lẻ sang chiến lược tổng hợp, dài hạn”, ông nhấn mạnh.

Việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên không còn được xem là mục tiêu tự thân mà phải được đặt trong mối quan hệ tổng hòa với môi trường, xã hội, công nghệ và thể chế. Tài nguyên, theo cách nhìn mới, phải được “kiến tạo”, “nuôi dưỡng” và “gia tăng giá trị” thông qua quản trị hiệu quả, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Môi trường và hệ sinh thái ở vị trí trung tâm

Một điểm nhấn quan trọng trong Dự thảo văn kiện Đại hội XIV là việc đặt môi trường, hệ sinh thái tự nhiên, hệ sinh thái xã hội và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo vào vị trí trung tâm của phát triển. Theo PGS. TS Nguyễn Đình Thọ, đây là dấu hiệu cho thấy Việt Nam đang bước vào “kỷ nguyên sinh thái”, nơi tăng trưởng kinh tế phải song hành với bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân.

“Tài nguyên lớn nhất không chỉ là đất đai hay khoáng sản, mà còn là niềm tin xã hội, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường và lòng tự hào dân tộc. Đây chính là nguồn lực tinh thần có vai trò nền tảng, tạo sự đồng thuận xã hội và tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài”, PGS. TS Nguyễn Đình Thọ nhận định.

Nguồn lực tinh thần này, dù khó đo đếm, lại quyết định khả năng huy động sức mạnh toàn xã hội cho các mục tiêu phát triển dài hạn, đặc biệt trong những thời điểm khó khăn, biến động.

Theo các chuyên gia, mục tiêu phát triển được đặt ra tại Đại hội XIV hướng tới một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên phục hồi hệ sinh thái, cân bằng giữa con người và tự nhiên, giữa môi trường và phát triển. Mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp hiện đại, có thu nhập trung bình cao không thể đạt được nếu tiếp tục đi theo con đường tăng trưởng dựa trên tiêu hao tài nguyên và gây tổn hại môi trường.

PGS. TS Nguyễn Đình Thọ cho rằng, đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy “tăng trưởng bằng mọi giá” sang tư duy phát triển dựa trên chất lượng, hiệu quả và tính bền vững. Trong đó, môi trường không còn là yếu tố phụ trợ hay “đánh đổi”, mà trở thành điều kiện và động lực của tăng trưởng.

Dự thảo văn kiện Đại hội XIV thể hiện rõ tư duy đổi mới thông qua ba đột phá chiến lược về nguồn lực. Thứ nhất, thể chế được xác định là “đột phá của đột phá”. Thể chế không chỉ là khung khổ quản lý mà được coi như một nguồn lực phát triển trực tiếp. Văn kiện thẳng thắn chỉ ra tình trạng ách tắc thể chế đang gây lãng phí lớn về đất đai, vốn và thời gian phát triển, làm suy giảm cơ hội tăng trưởng.

Việc hoàn thiện pháp luật đất đai theo hướng thị trường hóa giá trị đất, tăng minh bạch, giảm cơ chế “xin – cho” được kỳ vọng sẽ biến đất đai thành nguồn lực tài chính công khai, hiệu quả. Cùng với đó, phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình được nhấn mạnh nhằm giải phóng tính chủ động của địa phương, rút ngắn độ trễ chính sách và khai thác tốt hơn lợi thế từng vùng.

Một điểm mới nổi bật là lần đầu tiên dữ liệu được nhìn nhận như tài nguyên quốc gia. Theo PGS. TS Nguyễn Đình Thọ, dữ liệu có khả năng sinh lợi lâu dài nếu được quản trị và khai thác hiệu quả. Đầu tư vào hạ tầng số, trung tâm dữ liệu quốc gia và nền tảng chia sẻ dữ liệu được xác định là điều kiện then chốt để hình thành nguồn lực phát triển mới. Đặc biệt, tư duy quản trị rủi ro trong nghiên cứu khoa học được nhấn mạnh, cho phép chấp nhận thất bại có kiểm soát. “Đây là yếu tố rất quan trọng để giải phóng trí tuệ sáng tạo, giảm tâm lý e ngại trách nhiệm và khuyến khích đổi mới sáng tạo thực chất – yếu tố quyết định trong nền kinh tế tri thức”, ông Thọ phân tích.

Nguồn nhân lực cũng được tiếp cận theo hướng mới, chuyển từ đào tạo đại trà sang thu hút và trọng dụng nhân tài. Dự thảo nhấn mạnh chính sách đãi ngộ đặc thù cho đội ngũ trí thức, chuyên gia đầu ngành, phản ánh nhận thức rằng trong nền kinh tế tri thức, giá trị do một cá nhân xuất sắc tạo ra có thể vượt xa mô hình lao động số lượng lớn. Cách tiếp cận này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số, lợi thế lao động giá rẻ dần suy giảm, trong khi cạnh tranh toàn cầu về nhân lực chất lượng cao ngày càng gay gắt.

Bảo vệ môi trường phải thực sự ở vị trí trung tâm

Từ góc nhìn môi trường, TS Hoàng Dương Tùng, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường cho rằng, những năm qua, công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực nhờ sự quan tâm xuyên suốt của Đảng, Quốc hội và Chính phủ. Hệ thống thể chế, chính sách về môi trường ngày càng được hoàn thiện, đặc biệt là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 với nhiều đột phá quan trọng.

TS Hoàng Dương Tùng, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường

Luật đã thúc đẩy mạnh mẽ phân loại rác thải tại nguồn, phát triển kinh tế tuần hoàn và áp dụng nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” thông qua các công cụ như trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), thu phí rác thải theo khối lượng. Tuy nhiên, theo TS Hoàng Dương Tùng, ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, vẫn là thách thức nghiêm trọng. Nguyên nhân sâu xa là trụ cột môi trường ở một số nơi chưa thực sự được đặt ngang hàng với trụ cột kinh tế.

“Muốn giải quyết tận gốc, cần thay đổi quan điểm chỉ đạo, coi bảo vệ môi trường là vấn đề trung tâm cùng với kinh tế và xã hội”, ông nhấn mạnh, đồng thời bày tỏ sự đồng tình với định hướng của Dự thảo văn kiện Đại hội XIV khi xác định rõ: phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm.

Để các định hướng trong dự thảo đi vào cuộc sống, TS Hoàng Dương Tùng cho rằng cần cụ thể hóa bằng mục tiêu rõ ràng, gắn trách nhiệm và KPI cho từng bộ, ngành, địa phương, đồng thời bố trí nguồn lực tương xứng. Chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, xây dựng thị trường carbon và tăng cường liên kết vùng được xem là những chìa khóa chiến lược cho tương lai.

Việc xây dựng và tích hợp cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên, môi trường và biến đổi khí hậu sẽ tạo nền tảng khoa học cho hoạch định chính sách, xóa bỏ tình trạng “chính sách trên giấy”, đồng thời phục vụ hiệu quả cho quá trình chuyển đổi xanh trong bối cảnh phân cấp, phân quyền ngày càng mạnh mẽ.

Từ tư duy khai thác sang tư duy kiến tạo nguồn lực, Dự thảo văn kiện Đại hội XIV cho thấy một bước tiến quan trọng trong nhận thức và định hướng phát triển của Việt Nam. Khi tài nguyên được tái định nghĩa theo hướng hiện đại, đa chiều và bền vững, môi trường được đặt ở vị trí trung tâm, khát vọng vươn mình của đất nước có thêm nền tảng vững chắc để trở thành hiện thực trong kỷ nguyên mới.

Văn Ngân/VOV.VN

TIN LIÊN QUAN




























Home Icon VỀ TRANG CHỦ