Chuyện tình của nữ biệt động mang biệt danh 'con thoi sắt'
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Thị Mai được đồng đội gọi là "con thoi sắt" của lực lượng Biệt động Sài Gòn. Bà lặng lẽ làm nhiệm vụ giao liên, đưa thư từ, tài liệu và vũ khí giữa nội thành và căn cứ, bất chấp hiểm nguy luôn rình rập.
Ba lần sa vào tay địch, bà phải chịu đủ mọi cực hình tra tấn. Những trận đòn roi man rợ để lại trên cơ thể bà những thương tật không thể xóa nhòa.
Có thời điểm, bà từng nghĩ mình sẽ không bao giờ có thể sống một cuộc đời bình thường, càng không dám mơ đến hạnh phúc của một người vợ, người mẹ. Những tâm sự ấy được nhà văn Mã Thiện Đồng ghi lại trong cuốn Bài ca hy vọng.
Thế nhưng, giữa những năm tháng khốc liệt ấy, bà gặp Huỳnh Kiều (Mười Kiều). Ông yêu bà bằng tất cả sự thấu hiểu, đón nhận cả những vết thương, nỗi đau mà chiến tranh đã hằn lên cơ thể và cuộc đời bà.

Bà Nguyễn Thị Mai và ông Mười Kiều đã ở bên nhau hơn nửa thế kỷ. Ảnh chụp từ sách.
Những hẹn ước dang dở
Năm 1968, ông Mười Kiều là một trong những tân binh được bà Mai dẫn từ nội thành Sài Gòn - Gia Định ra căn cứ. Sau đó, họ chỉ gặp nhau qua những chuyến giao liên ngắn ngủi. Theo thời gian, tình đồng hương, đồng chí dần trở thành tình yêu.
Một lần, Mười Kiều lấy hết can đảm, ngập ngừng tỏ tình bằng một câu cộc lốc, cụt ngủn: “Mai này! Tôi muốn kiếm vợ…! Tôi ưng Mai. Mai chịu tôi không?”. Lời tỏ tình trong thời chiến loạn dẫu ngắn gọn, súc tích nhưng được gói ghém bằng biết bao yêu thương. Họ biết chắc chắn rằng không thể sống thiếu nhau được.
Chuyện tình của họ chỉ vừa kịp đâm chồi, Mai lại bị bắt, biệt tăm mất 3 tháng. Kiều lo lắng, thấp thỏm không yên trong lòng nhưng không dám hỏi ai, chỉ biết trông tin ngày đêm, hy vọng Mai bình an quay về.

Tác phẩm Bài ca hy vọng của nhà văn Mã Thiện Đồng kể về cuộc đời và tình yêu của nữ biệt động Nguyễn Thị Mai.
Tình yêu của ông Kiều dành cho người nữ biệt động càng tha thiết hơn khi biết Mai vừa trải qua một đợt sóng gió tra tấn thân thể. Trong cuốn Bài ca hy vọng, bà Mai vẫn nhớ những lời tâm tình của ông: “Em ơi, tình yêu còn bay cao hơn trường thành lũy thép, cả tam tứ núi cũng trèo, ngũ lục thất bát sông cũng lội, mấy đèo cũng qua… huống chi là chuyện nhỏ. Càng vậy anh càng thấy thương em hơn”.
Đối với ông Kiều, chỉ cần hai đứa được sống bên nhau, thương nhau, chăm sóc cho nhau là được, ông không bận tâm chuyện người mình thương có thể không sinh con.
Sau đó, Mười Kiều báo cáo với Ban Cán bộ của căn cứ, xin phép được cưới Mai. Mấy anh chị trong Ban Cán bộ buộc ông Kiều ký đơn cam kết nhất trí sống trọn đời với Mai, ông đồng ý liền: “Đã yêu thì chấp nhận hết. Đã lấy Mai là chấp nhận rồi, là không bao giờ xa nhau”.
Sau Tết Mậu Thân 1968, lực lượng Biệt động Sài Gòn hy sinh gần hết, các cơ sở trong nội thành bị lộ và bao vây bắt bớ. Căn cứ tại Củ Chi, Bến Cát phải lùi xa, dời sang Tây Ninh. Chặng đường giao liên của Mai cũng vì thế mà càng nguy hiểm.
Năm 1971, lúc chia tay ở biên giới Tây Ninh, Kiều nói với Mai: “Sau đợt này em về là chúng ta tổ chức đấy nha! Anh có nghe mấy anh nói sắp tới tổ chức đám cưới cho hai đứa mình rồi”. Đứng nhìn theo bóng Mai bước đi trên con đường cát vàng thăm thẳm, Kiều thầm mong Mai an toàn trở về để cả hai được làm đám cưới.
Cả hai đâu ngờ, lần chia xa này lại kéo dài hơn một năm trời.
Vừa tới trạm gác Bình Chánh, Mai bị địch bắt vào biệt khu, dùng đủ mọi trò tra tấn để lấy lời khai từ bà. Mặc cho bụng trương phồng vì bị đổ nước xà bông, con ngươi như toác ra vì bị đèn pha ôtô rọi thẳng vào, đôi chân bị đốt cháy, Mai vẫn nhất quyết không chịu thua bọn ác ôn. Có lẽ da thịt máu xương, ý chí của bà được tôi luyện thành sắt, thành đồng bởi máu đổ của đồng bào trong lửa đạn chiến tranh.
Theo lời kể trong tác phẩm Bài ca hy vọng, vào thời khắc cận kề cái chết, Mai lại nhớ tới người con trai đang đợi bà ở cứ: “Anh Mười ơi! Em đã nói với anh chiến tranh mà, yêu đương, gắn bó với nhau làm chi cho khổ thêm ra. Anh thương em, anh cứ báo cáo tổ chức chuyện của chúng mình, bây giờ… Anh Mười! Em xin vĩnh biệt anh”.
Phép màu của hy vọng
Một năm trời ròng rã tra tấn nhưng không khai thác được gì, bọn ác ôn buộc phải cho bà Mai án mù rồi đày xuống nhà giam Thủ Đức. Khi đã là án mù, nghĩa là không kết được án, chỉ là tội gây rối an ninh trật tự. Hơn một năm sau, bà Mai mới được thả ra.
Sau thời gian xa cách, tình cảm của bà Mai và ông Mười Kiều càng thêm gắn bó. Mười Kiều tranh thủ lúc xong công việc sẽ tới chăm lo cho người thương từng chút. Ông muốn nâng đỡ, chia sẻ những nỗi đau mà bà phải chịu đựng bấy lâu nay.
Năm 1973, căn cứ tổ chức đám cưới cho Mai và Mười Kiều. Đám cưới ở chiến khu đơn giản, chỉ có nồi chè đường thốt nốt là đặc biệt nhất. Cả đơn vị tưng bừng, rôm rả, mừng cho người phụ nữ đặc biệt lấy chồng.

Gia đình hạnh phúc của bà Mai và ông Kiều. Ảnh chụp từ sách.
Những trận đòn thù man rợ khiến bà Mai nghĩ bản thân không còn có cơ hội làm mẹ. Kỳ diệu thay, phép màu đã tới với bà. “Tôi những tưởng đời mình thế là rồi, không có tương lai con cái, gia đình gì hết! Vậy mà may mắn làm sao, tôi đã có con”, bà tâm sự trong cuốn Bài ca hy vọng.
Năm 1974, tình hình đang chuyển sang thời kỳ mới, chiến sự ngày càng ác liệt, căn cứ đông người hơn, cuộc sống trên căn cứ cũng chưa có gì khấm khá, vẫn thiếu thốn đủ thứ, gạo cũng chỉ ăn nhỏ giọt cầm chừng từng bữa. Mai có bầu đã bảy tháng nhưng vẫn ngày ngày tìm kiếm rau củ, bắt cua, bắt ốc về cải thiện bữa ăn cho anh em. Trong một lần trèo cây vông hái lá non nấu canh, Mai bị ngã. Đêm hôm sau, Mai chuyển dạ và sinh non một bé trai. Tiếng khóc chào đời của đứa bé trở thành niềm vui chung của cả căn cứ.
Sau ngày đất nước thống nhất vài tháng, bà Mai sinh người con trai thứ hai. Đến năm 1979, vì thương tật và sức khỏe ngày một suy giảm, lại cần chăm sóc hai con nhỏ, bà xin ra quân.
Cuộc sống hậu chiến không hề dễ dàng. Đồng lương thương binh ít ỏi không đủ nuôi cả gia đình, bà Mai làm đủ nghề để mưu sinh. Từ gánh nước thuê, bán bánh, mì Quảng, bún bò, hủ tíu, đến mở xưởng cưa, vựa củi, vựa gốm..., việc gì bà cũng sẵn sàng làm. Dẫu nhiều lúc nhọc nhằn, bà Mai và ông Mười Kiều vẫn lựa chọn đồng hành bên nhau.
Trong cuốn Bài ca hy vọng, bà Mai không giấu được nụ cười hạnh phúc khi kể về gia đình nhỏ của mình: “Tôi mừng vì có con, lại mừng vì các con tôi đều khỏe mạnh và chăm học, cả hai thằng đều học giỏi”. Sau tất cả những mất mát, đau thương của chiến tranh, đây có lẽ là món quà quý giá nhất mà cuộc đời dành cho bà.
-------------
Thông tin trong bài được khai thác từ sách “Bài ca hy vọng” của Mã Thiện Đồng (NXB Tổng hợp TP.HCM phát hành lần đầu năm 2012).
Bài viết có sử dụng các thao tác biên tập trong quá trình xử lý thông tin, tư liệu để nội dung liền mạch.
Khánh Linh
57 phút trước
3 giờ trước
1 giờ trước
5 giờ trước
6 giờ trước
6 giờ trước