Chiến lược đảm bảo an ninh năng lượng Việt Nam: Cơ hội chuyển đổi hệ thống dài hạn

Khái niệm an ninh năng lượng trong thế kỷ 21 đã trải qua sự biến đổi cấu trúc sâu sắc, vượt xa những định nghĩa truyền thống về việc đơn thuần đảm bảo khối lượng nhiên liệu hóa thạch, để tiến tới một khuôn khổ lý thuyết toàn diện gồm bốn khía cạnh cốt lõi (4 chữ A): Tính sẵn có (Availability), Khả năng tiếp cận (Accessibility), Khả năng chi trả (Affordability) và Tính chấp nhận được (Acceptability).
Sau bốn thập kỷ chuyển đổi mạnh mẽ từ một nền kinh tế nông nghiệp sang trung tâm sản xuất công nghiệp và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năng động tại châu Á, an ninh năng lượng đã trở thành nền tảng tuyệt đối của tăng trưởng, chi phối trực tiếp đến sự ổn định của cấu trúc kinh tế vĩ mô và an ninh quốc gia ở Việt Nam.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GDP hai chữ số trong giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi nguồn năng lượng khổng lồ, kéo theo nhu cầu điện tăng 12-14% mỗi năm. Trong khi công nghiệp hóa, hạ tầng số, logistics và đô thị hóa đều phụ thuộc trực tiếp vào nguồn cung năng lượng ổn định với chi phí hợp lý.
NHU CẦU NĂNG LƯỢNG CHO TĂNG TRƯỞNG PHÁT TRIỂN
Mở rộng quy mô kinh tế nhanh chóng đẩy hệ thống năng lượng quốc gia đến bước ngoặt, Việt Nam đã đánh mất vị thế là quốc gia xuất khẩu ròng năng lượng truyền thống để trở thành quốc gia nhập khẩu ròng với quy mô ngày càng lớn.
Số liệu thống kê vĩ mô cho thấy tổng mức tiêu thụ năng lượng sơ cấp quy đổi của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam năm 2024 đã đạt mức xấp xỉ 1.457,179 Terawatt-giờ (TWh), tương đương khoảng 126 triệu tấn dầu quy đổi (Mtoe), ghi nhận tốc độ tăng trưởng trung bình 9% mỗi năm trong giai đoạn 2022-2024.
Điểm đáng lo ngại nhất của cấu trúc năng lượng này là loại nhiên liệu hóa thạch chiếm tới 78,46% tổng mức tiêu thụ quốc gia; trong đó, than đá dẫn đầu với 693,435 TWh (chiếm 47,58%), tiếp theo là dầu mỏ với 388,967 TWh (26,69%) và khí đốt tự nhiên với 60,987 TWh (4,18%). Điều này đặt nền kinh tế nội địa trước những rủi ro ngoại sinh lớn, khi năng lực sản xuất và khai thác nội địa đối với cả than, dầu và khí đều đã chạm ngưỡng giới hạn kỹ thuật và bắt đầu chu kỳ suy giảm tự nhiên không thể đảo ngược...
PHONG TỎA EO BIỂN HORMUZ VÀ TÁC ĐỘNG
Chi phí năng lượng khổng lồ đóng vai trò trung tâm trong cơ chế truyền dẫn lạm phát của Việt Nam. Theo mô hình hồi quy tuyến tính, cứ mỗi 1% gia tăng trong tổng chi phí năng lượng sẽ kéo theo tỷ lệ lạm phát chung (CPI) tăng thêm xấp xỉ 0,2 điểm phần trăm. Áp lực lạm phát len lỏi qua kênh tác động trực tiếp (như cước vận tải và giá điện sinh hoạt có độ trễ cực ngắn) và kênh tác động gián tiếp có khả năng khuếch đại lạm phát trên diện rộng thông qua giá phân bón nông nghiệp và vật liệu xây dựng.

Ảnh minh họa - Ảnh: Reuters.
Những lỗ hổng cấu trúc và sự nhạy cảm của hệ thống định giá thể hiện rõ từ cuối tháng 2 tới đầu tháng 3/2026, khi hệ thống năng lượng toàn cầu đối mặt với cú sốc nghiêm trọng do Chiến dịch Cuồng Nộ (Operation Epic Fury) tại khu vực Trung Đông.
Các cuộc không kích vào cơ sở hạt nhân của Iran và các đòn trả đũa bằng tên lửa đã khiến Iran tuyên bố phong tỏa eo biển Hormuz, “yết hầu” hàng hải chiến lược quan trọng nhất xử lý khoảng một phần năm lượng dầu và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) toàn cầu. Lưu lượng tàu trung chuyển qua eo biển này sụt giảm từ 153 lượt/ngày xuống còn 13 lượt vào ngày 2/3/2026, và gần như bị phong tỏa hoàn toàn vào các ngày 8-9/3/2026, đẩy giá dầu thô Brent từ mức 60-70 USD/thùng tăng phi mã lên chạm đỉnh 126 USD/thùng.
Mức độ hội nhập sâu và sự phụ thuộc vào logistics hàng hải châu Á đã khiến các tác động lan tỏa kinh tế vĩ mô được Việt Nam cảm nhận ngay lập tức. Chỉ trong vòng 2,5 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu nhiên liệu của Việt Nam đã tiêu tốn khoảng 5,27 tỷ USD để nhập khẩu 13,8 triệu tấn than đá với gần 1,49 tỷ USD; 2,8 triệu tấn dầu thô với 1,44 tỷ USD; 2,7 triệu tấn xăng dầu tinh chế với đơn giá tăng lên 717,6 USD/tấn, trị giá 1,94 tỷ USD và 403 triệu USD khí đốt hóa lỏng...
Để dập tắt ngay lập tức cơ chế truyền dẫn từ giá nhập khẩu vào giá bán lẻ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã chỉ đạo kiên quyết không được phép thiếu năng lượng trong bất kỳ hoàn cảnh nào, đồng thời kích hoạt các công cụ tài khóa khẩn cấp thông qua việc ban hành Nghị định số 72/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 9/3 đến 30/4/2026.
Quyết định mang tính đánh đổi vĩ mô kinh điển chấp nhận hy sinh một phần nguồn thu ngân sách để hạ mức thuế nhập khẩu ưu đãi tối huệ quốc (MFN) xuống 0% đối với hàng loạt mặt hàng thiết yếu như xăng không chì (trước đây chịu thuế 10%), dầu diesel, nhiên liệu tuabin hàng không (trước đây 7%) và các nguyên liệu hóa dầu quan trọng. Điều này giúp các nhà nhập khẩu Việt Nam linh hoạt mua nhiên liệu từ bất kỳ nguồn nào trên thế giới mà không bị ràng buộc bởi thủ tục chứng nhận xuất xứ...
CHIẾN LƯỢC DÀI HẠN CỦA VIỆT NAM
Nghị quyết 70-NQ/TW đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tư duy chính sách khi nâng tầm an ninh năng lượng thành trụ cột của an ninh quốc gia, đặt mục tiêu chiến lược nâng tổng dự trữ dầu thô và sản phẩm dầu mỏ lên mức tương đương 75-80 ngày nhập khẩu ròng vào năm 2030, tiến tới ngưỡng 90 ngày sau năm 2030, đòi hỏi hàng chục tỷ USD đầu tư vào kho chứa và hạ tầng logistics.
Nền tảng của quá trình chuyển đổi là việc đẩy nhanh sự tự chủ thông qua các nguồn năng lượng tái tạo và ít phát thải, nhằm cắt đứt sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng hóa thạch ngoại sinh và né tránh bức tường thuế quan môi trường khắt khe như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu, đe dọa trực tiếp đến tính cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam...
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 13-2026 phát hành ngày 30/03/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-13-2026.html

PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
7 giờ trước
8 giờ trước
8 giờ trước
8 giờ trước
9 giờ trước
9 giờ trước
10 giờ trước
10 giờ trước
31 phút trước
2 phút trước
12 phút trước
16 phút trước
23 phút trước
23 phút trước
25 phút trước
25 phút trước