Cần chủ động ứng phó, phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế
Đại biểu Mai Thị Phương Hoa (Đoàn Ninh Bình) tập trung vào phạm vi điều chỉnh và vấn đề trách nhiệm pháp lý. Đại biểu cho rằng cách xác định tranh chấp đầu tư quốc tế dựa trên tỷ lệ sở hữu vốn trên 50% của nhà đầu tư nước ngoài như dự thảo là quá hẹp, chưa phản ánh đúng thực tiễn.
Không ít trường hợp nhà đầu tư nước ngoài chỉ nắm tỷ lệ thấp hoặc tham gia dưới hình thức thành viên hợp danh nhưng lại phát sinh tranh chấp lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia, môi trường đầu tư, thậm chí liên quan đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Từ đó, Đại biểu kiến nghị mở rộng phạm vi áp dụng cơ chế đặc thù cho cả những trường hợp có nguy cơ cao, dù không đáp ứng tiêu chí hình thức.

Đại biểu Mai Thị Phương Hoa
Ở một nội dung khác, Đại biểu đặc biệt lưu ý quy định miễn, giảm trách nhiệm pháp lý đối với người tham gia xây dựng, ban hành Nghị quyết. Đây là cách tiếp cận mới, chưa có tiền lệ rõ trong hệ thống pháp luật hiện hành, trong khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chưa điều chỉnh trách nhiệm trong hoạt động xây dựng pháp luật. Vì vậy, Đại biểu đề nghị cân nhắc kỹ để đảm bảo tính thống nhất và tránh tạo ra khoảng trống pháp lý.
Đi sâu vào tính khả thi của cơ chế phối hợp, Đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn Lâm Đồng) cho rằng, nhiều quy định trong dự thảo mới dừng ở mức nguyên tắc, chưa đủ rõ để triển khai. Với cơ chế phòng ngừa tranh chấp, cần xác định rõ một cơ quan đầu mối đóng vai trò điều phối trung tâm - gợi ý là Bộ Tư pháp - để tránh tình trạng mạnh ai nấy làm. Đồng thời, phải quy định cụ thể quy trình phối hợp liên ngành ngay từ khâu đàm phán, ký kết các cam kết quốc tế.
Ở khâu xây dựng chính sách, Đại biểu cảnh báo nguy cơ “đùn đẩy trách nhiệm” nếu không xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm chính. Do đó, cần phân vai cụ thể giữa các Bộ, ngành, đặc biệt là Bộ Tài chính và các cơ quan chuyên môn, đồng thời thiết lập các cơ chế phòng ngừa từ sớm như đánh giá rủi ro pháp lý trước khi cấp phép đầu tư, cơ chế tiền hợp đồng và minh bạch hóa thủ tục.
Đối với việc xác định cơ quan chủ trì giải quyết tranh chấp, Đại biểu đề xuất một thứ tự ưu tiên rõ ràng: cơ quan ban hành hoặc đề xuất biện pháp bị khiếu kiện trước tiên phải chịu trách nhiệm; tiếp đến là cơ quan quản lý chuyên ngành, rồi đến cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài. Chỉ khi không xác định được mới báo cáo Thủ tướng. Cùng với đó, trách nhiệm phối hợp cần đi kèm chế tài cụ thể, bao gồm thời hạn cung cấp thông tin và hậu quả pháp lý nếu không thực hiện đầy đủ.
Ở góc nhìn rộng hơn về tư duy tiếp cận, Đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn Đồng Nai) đề nghị chuyển trạng thái từ “phòng ngừa, phòng thủ” sang “chủ động ứng phó” bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Theo Đại biểu, cơ chế không chỉ dừng ở việc xử lý khi bị kiện mà cần cho phép Nhà nước chủ động khởi kiện hoặc phản tố trong các trường hợp cần thiết.
Đại biểu cũng đặc biệt quan tâm đến các doanh nghiệp nhà nước đầu tư ra nước ngoài - những chủ thể có thể bị lôi kéo vào tranh chấp quốc tế một cách “vạ lây”. Vì vậy, cần mở rộng cơ chế hỗ trợ để bảo vệ các doanh nghiệp này.
Theo Đại biểu Trịnh Xuân An, một điểm còn thiếu trong dự thảo là cơ chế “hậu tranh chấp” - xử lý trách nhiệm và tài sản sau khi vụ việc kết thúc, đặc biệt trong trường hợp bất lợi cho phía Việt Nam. Ngoài ra, Đại biểu cho rằng Nghị quyết không nên quy định quá chi tiết các thủ tục mang tính hành chính như thành lập đoàn công tác, thuê luật sư - những nội dung thuộc thẩm quyền điều hành của Chính phủ.
Góp ý từ thực tiễn địa phương, Đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hạnh (Đoàn TP Hồ Chí Minh) đi vào chi tiết quy trình và chế độ chính sách. Đại biểu cho rằng, quy định về tiếp nhận và chuyển thông tin khiếu nại còn chưa rõ, đặc biệt là vai trò của “cơ quan đại diện pháp lý”. Nếu không xác định rõ trách nhiệm, quy định này dễ làm phát sinh thủ tục rườm rà, nên cân nhắc bỏ hoặc làm rõ.
Ở khâu xử lý sớm, Đại biểu nhấn mạnh cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài cần tham gia từ đầu và phối hợp chặt chẽ hơn để giải quyết dứt điểm các phản ánh của nhà đầu tư trước khi tranh chấp bị đẩy lên trọng tài quốc tế.
Về chế độ chính sách, Đại biểu ủng hộ việc có cơ chế đặc thù nhưng lưu ý bài toán thực tế: các vụ kiện kéo dài 3-5 năm, trong khi nhiều công chức không chuyên trách không thể dành toàn bộ thời gian cho một vụ việc. Do đó, cần thiết kế cơ chế hỗ trợ linh hoạt hơn, có thể theo hướng khoán việc hoặc giao địa phương chủ động quy định mức chi phù hợp với điều kiện thực tế.

Đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc.
Đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc (Đoàn Đà Nẵng) nhấn mạnh tính cấp thiết của việc ban hành Nghị quyết trong bối cảnh hiện có khoảng 32 vụ tranh chấp đầu tư quốc tế đã và đang phát sinh hoặc bị đe dọa khởi kiện. Đây là lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp, có thể liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau, trong khi đơn khởi kiện thường được gửi trực tiếp đến các lãnh đạo cấp cao như Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao hoặc Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Đại biểu khẳng định, phòng ngừa là yếu tố then chốt: nếu làm tốt từ đầu, không chỉ hạn chế tranh chấp mà còn giúp Nhà nước ở thế chủ động khi xử lý. Mọi cơ quan khi giải quyết công việc liên quan đến nhà đầu tư nước ngoài đều phải nắm chắc các cam kết quốc tế, bởi “nếu đã làm sai từ đầu thì khi tranh chấp xảy ra sẽ rất khó xử lý”.
Trong tổ chức thực hiện, Đại biểu thẳng thắn chỉ ra thực tế “không ai muốn làm chủ trì” do áp lực lớn, từ đó ủng hộ nguyên tắc: cơ quan nào gây ra sai sót thì phải chủ trì giải quyết. Đồng thời, làm rõ vai trò của cơ quan đại diện pháp lý như một “luật sư” cho cơ quan chủ trì, và đánh giá cao mô hình tổ công tác liên ngành để huy động sức mạnh tổng hợp.
Từ góc nhìn dài hạn, Đại biểu cho rằng mô hình hiện nay - phân tán theo nguyên tắc “ai gây ra người đó xử lý” - là phù hợp trong ngắn hạn. Tuy nhiên, về lâu dài, để đạt trình độ chuyên nghiệp cao trong giải quyết tranh chấp quốc tế, cần hướng tới xây dựng một đội ngũ chuyên gia tập trung, thay vì để mỗi Bộ, ngành, địa phương “tự bơi”.
T.Chung
1 giờ trước
1 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
6 giờ trước
6 giờ trước
6 giờ trước