Cần 'biến' tài nguyên văn hóa thành giá trị kinh tế
Đây là vấn đề được đặt ra tại Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND TP Hồ Chí Minh tổ chức chiều 10/8 tại Trường Đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh.
Tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực
Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng cho biết công nghiệp văn hóa đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, với kỳ vọng đóng góp quan trọng vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Việc xây dựng dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam. Dự án Luật đang được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn, dự kiến trình Quốc hội xem xét tại Kỳ họp tháng 10/2026.

Ban Chủ trì Hội thảo lắng nghe nhiều ý kiến góp ý của các đại biểu.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, giai đoạn 2018 - 2025, tỷ trọng công nghiệp văn hóa trong GDP Việt Nam ước đạt khoảng 4 - 5%, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là tối thiểu 7% GDP. Việt Nam có nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, lực lượng sáng tạo trẻ, thị trường hơn 100 triệu dân cùng sự phát triển nhanh của công nghệ và kinh tế số, tuy nhiên những lợi thế này chưa được khai thác tương xứng.
Một trong những nguyên nhân là các quy định liên quan đến công nghiệp văn hóa hiện nằm rải rác trong các luật chuyên ngành, chủ yếu điều chỉnh từng lĩnh vực, trong khi thiếu cơ chế liên ngành để kết nối đầy đủ chuỗi giá trị từ sáng tạo, sở hữu trí tuệ, vốn, sản xuất, phân phối, doanh thu đến tái đầu tư và xuất khẩu.
Dự án Luật vì vậy được xây dựng theo hướng tạo khung chính sách liên ngành, tháo gỡ các điểm nghẽn, làm rõ những “điểm mờ” và bổ sung các “khoảng trống” đã được nhận diện trong thực tiễn. Cách tiếp cận là phát triển công nghiệp văn hóa như một ngành kinh tế chiến lược theo chuỗi giá trị, đồng thời không quy định lại những nội dung đã được luật chuyên ngành điều chỉnh và không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính không cần thiết.
Tinh thần được đặt ra trong quá trình xây dựng Luật là “chuyển bản sắc văn hóa thành tài sản trí tuệ, chuyển tài sản trí tuệ thành dòng tiền tạo ra giá trị kinh tế”.
Dự thảo tập trung vào 6 nhóm chính sách lớn gồm hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; tài sản trí tuệ; nhân lực và nhân tài; hạ tầng; thị trường; hỗ trợ tài chính và ưu đãi đầu tư. Trong đó, chú trọng kết nối các chủ thể sáng tạo, doanh nghiệp, tài sản trí tuệ và các công đoạn trong chuỗi giá trị; phát triển nhân lực gắn với thực hành và thị trường; xây dựng không gian sáng tạo, tổ hợp và cụm công nghiệp sáng tạo; phát triển thị trường trong nước, xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ văn hóa và thu hút nguồn vốn đầu tư chiến lược.

Ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh phát biểu tại Hội thảo.
Từ thực tiễn TP Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng công nghiệp văn hóa vừa đáp ứng yêu cầu phát triển lĩnh vực văn hóa, vừa có thể trở thành động lực tăng trưởng mới của kinh tế Thành phố.
Với lợi thế về quy mô thị trường, nguồn nhân lực sáng tạo, cộng đồng doanh nghiệp và khả năng kết nối quốc tế, Thành phố đang từng bước xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và có sức cạnh tranh trong khu vực. Quá trình này cũng hình thành những mô hình, phương thức hoạt động mới, đặt ra yêu cầu ngày càng rõ về cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý.
Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, dự thảo Luật cần được thiết kế theo hướng không chỉ quản lý mà quan trọng hơn là kiến tạo thị trường và hệ sinh thái phát triển.
Thành phố đề nghị nghiên cứu các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ có tính đột phá, đồng bộ và khả thi, không chỉ về tài chính mà cả về đất đai, quy hoạch, đầu tư, thuế, thủ tục hành chính, sở hữu trí tuệ và tiếp cận hạ tầng văn hóa; qua đó giảm chi phí gia nhập thị trường, khuyến khích đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp văn hóa.
Bên cạnh đó, cần có cơ sở pháp lý để hình thành và phát triển các trung tâm, cụm, khu công nghiệp văn hóa, tổ hợp sáng tạo văn hóa; tạo hệ sinh thái liên kết giữa văn nghệ sĩ, người sáng tạo, doanh nghiệp, nhà đầu tư, cơ sở đào tạo, tổ chức trung gian và thị trường.
Thành phố cũng đề xuất cơ chế cụ thể thúc đẩy hợp tác công - tư và xã hội hóa trong đầu tư, quản lý, khai thác các thiết chế và hạ tầng văn hóa; cụ thể hóa tư duy nhà nước đầu tư và kiến tạo, doanh nghiệp tham gia đầu tư, cộng đồng cùng tham gia phát triển và thụ hưởng.
Đưa tài nguyên văn hóa vào chuỗi giá trị
Nhìn từ thực tiễn, các đại biểu cho rằng vấn đề của công nghiệp văn hóa không chỉ là tạo thêm sản phẩm mà quan trọng hơn là làm thế nào để các sản phẩm, tài sản và giá trị văn hóa được đưa vào chuỗi giá trị, tạo doanh thu, tái đầu tư và tiếp tục phát triển.
Theo bà Huỳnh Ngọc Vân, Giám đốc Bảo tàng Áo dài, tự chủ và đổi mới sáng tạo là những yếu tố quan trọng để các thiết chế văn hóa phát triển. Từ kinh nghiệm từng là Giám đốc Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, bà cho biết bảo tàng đã nỗ lực trong nhiều năm để từng bước tự chủ tài chính; việc kết nối hoạt động bảo tàng với du lịch, văn hóa góp phần tạo thêm nguồn thu, đưa tổng doanh thu tăng khoảng 200% sau 2 năm.

Nhiều thông tin về công nghiệp văn hóa được trao đổi, chia sẻ tại Hội thảo.
Cũng theo bà Huỳnh Ngọc Vân, để công nghiệp văn hóa phát triển, yếu tố con người có vai trò quan trọng. Ngành văn hóa cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, trân trọng và phát huy hiệu quả nguồn nhân lực trong từng lĩnh vực, ngành nghề.
Từ lĩnh vực ẩm thực, Nghệ nhân dân gian Nguyễn Quốc Y cho rằng đây cần được nhìn nhận rõ hơn như một thành tố của công nghiệp văn hóa. Mỗi món ăn, nguyên liệu, phương thức chế biến và tập quán ẩm thực đều gắn với lịch sử, văn hóa của một vùng đất, đồng thời có thể trở thành sản phẩm thu hút du khách.
Với kinh nghiệm đào tạo hơn 50.000 học viên, ông Nguyễn Quốc Y đề nghị nghiên cứu đưa các chính sách liên quan đến ẩm thực vào Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, tạo cơ sở cho việc bảo tồn, đào tạo, sáng tạo và phát triển các giá trị ẩm thực theo hướng chuyên nghiệp.
Ông cũng đề xuất nghiên cứu xây dựng Bảo tàng Văn hóa ẩm thực để lưu giữ tri thức, nguyên liệu, phương thức chế biến, câu chuyện và những giá trị lịch sử, văn hóa gắn với ẩm thực từng vùng miền. Cùng với đó, có thể kết hợp ẩm thực với nghệ thuật biểu diễn, du lịch, Đông y và các lĩnh vực khác để tạo ra những sản phẩm văn hóa tổng hợp, vừa có giá trị trải nghiệm, vừa tạo giá trị kinh tế.
Ở góc độ du lịch, ông Võ Anh Tài, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist Group), cho rằng du lịch tạo ra thị trường quan trọng cho di sản, ẩm thực, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, thiết kế, điện ảnh, lễ hội và các sản phẩm sáng tạo.
Ông đề nghị dự thảo Luật nghiên cứu bổ sung nguyên tắc hoặc chính sách riêng theo hướng phát triển du lịch văn hóa theo chuỗi giá trị liên ngành, kết nối tài nguyên văn hóa với sáng tạo sản phẩm, trải nghiệm, lưu trú, ẩm thực, lữ hành và phân phối, tiêu dùng. Cách tiếp cận này phù hợp với nguyên tắc phát triển đồng bộ chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa, đồng thời tạo điều kiện để các giá trị văn hóa được chuyển hóa thành sản phẩm du lịch có khả năng tiếp cận thị trường.
Từ góc độ doanh nghiệp, theo bà Huỳnh Phan Phương Hoàng, Phó Tổng Giám đốc Công ty Vietravel, dự thảo Luật cần cập nhật tác động của trí tuệ nhân tạo (AI), bởi công nghệ này đang làm thay đổi nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa. Theo bà, cần phát triển đồng đều ba trụ cột gồm doanh nghiệp, thị trường và dữ liệu, coi đây là những yếu tố quan trọng để tạo ra giá trị cho doanh nghiệp cũng như nền công nghiệp văn hóa.
Ông Đoàn Đức Dương, đại diện Công ty cổ phần Đất Việt, cũng cho rằng cần phân biệt rõ giữa phát triển văn hóa và phát triển công nghiệp văn hóa. Nếu phát triển văn hóa gắn nhiều với gìn giữ, bảo tồn các giá trị truyền thống thì công nghiệp văn hóa hướng tới tạo ra những giá trị cụ thể, trực tiếp cho nền kinh tế. Do đó, dự thảo Luật cần bổ sung các định nghĩa rõ ràng, cụ thể để làm cơ sở thiết chế hóa các nội dung liên quan.
Trong khi đó, ông Vương Duy Biên, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cho rằng với tỷ trọng đóng góp khoảng 4 - 5% GDP giai đoạn 2018 - 2025 và mục tiêu tối thiểu 7% GDP vào năm 2030, công nghiệp văn hóa đang đứng trước dư địa phát triển lớn. Nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, lực lượng sáng tạo trẻ, thị trường hơn 100 triệu dân cùng sự phát triển nhanh của công nghệ và kinh tế số là những lợi thế cần được khai thác tốt hơn.
Theo các đại biểu, dự án Luật cần tiếp cận công nghiệp văn hóa từ góc độ một ngành kinh tế chiến lược, nhưng không tách rời chức năng bảo tồn, phát huy bản sắc. Giá trị văn hóa cần được xem là nguồn lực để hình thành sản phẩm, dịch vụ, tài sản trí tuệ và thương hiệu, từ đó tạo thêm nguồn lực cho chính lĩnh vực văn hóa.
Phát biểu kết luận, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng cho biết Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ tiếp thu các ý kiến tại Hội thảo để nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện dự án Luật trước khi trình cấp có thẩm quyền.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, dự án Luật lần này hướng tới ba mục tiêu lớn: Xác lập vị trí của công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế Việt Nam; kết nối chuỗi giá trị để gia tăng giá trị kinh tế, xuất khẩu và thu hút đầu tư chiến lược; đồng thời lan tỏa bản sắc văn hóa, thương hiệu Việt Nam và sức mạnh mềm Việt Nam trên trường quốc tế.
Việc hoàn thiện Luật được kỳ vọng tạo cơ chế để các giá trị văn hóa tham gia sâu hơn vào thị trường, được đầu tư, sáng tạo, thương mại hóa và tái đầu tư, qua đó khơi thông nguồn lực cho công nghiệp văn hóa phát triển.
Bài, ảnh: Hương Trần/Báo Tin tức và Dân tộc
1 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
8 ngày trước
39 phút trước
35 phút trước
13 phút trước
20 phút trước
23 phút trước
27 phút trước
41 phút trước
42 phút trước
43 phút trước
44 phút trước