Cải cách thủ tục hành chính: Người dân, doanh nghiệp phải thực sự được thụ hưởng
Kết quả bước đầu tạo chuyển biến rõ nét
Về nhiệm vụ và giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 – 2030, Kết luận Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV nêu rõ yêu cầu quan trọng: “Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; chuẩn hóa, số hóa toàn bộ quy trình giải quyết thủ tục trên môi trường số, liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan; rút ngắn tối đa thời gian, chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp. Phấn đấu môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp chuyên đề về công tác chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. Ảnh: Báo Nhân Dân
Kết luận Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV cũng đặt mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030: “Phát triển nhanh, bền vững đất nước; phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân”.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Chính phủ đã ban hành 206 văn bản; 11 Nghị quyết về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, giảm 53% thời gian và 55% chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp. Trong đó, 8 nghị quyết được xây dựng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; 3 nghị quyết áp dụng cơ chế đặc biệt để xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ quy định pháp luật.
Trong vòng một tháng, số thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp bộ giảm còn 27,4%. Đến ngày 13/6, cấp bộ còn trực tiếp giải quyết 1.595 trong tổng số 5.816 thủ tục hành chính, giảm 743 thủ tục. Trong số này, 362 thủ tục được phân quyền, phân cấp cho địa phương và 381 thủ tục được bãi bỏ.
Cùng với việc thu hẹp số thủ tục giải quyết tại cấp bộ, 11 nghị quyết của Chính phủ và các thông tư của bộ, ngành đã bãi bỏ 697 thủ tục, đơn giản hóa 673 thủ tục, cắt giảm 1.754 điều kiện kinh doanh không cần thiết. Thời gian giải quyết thủ tục giảm 53%, tương đương hơn 51.000 ngày trong tổng số gần 97.000 ngày theo quy trình trước đó. Chi phí tuân thủ giảm 54,6% so với năm 2024.
Riêng các phương án trong 11 nghị quyết của Chính phủ được dự kiến giúp người dân, doanh nghiệp tiết kiệm khoảng 23.000 tỷ đồng mỗi năm. Đây là khoản nguồn lực rất lớn, bởi chi phí tuân thủ không dừng ở phí và lệ phí chính thức mà còn bao gồm thời gian chuẩn bị hồ sơ, đi lại, chờ đợi, bổ sung giấy tờ và chi phí cơ hội do hoạt động sản xuất, kinh doanh bị trì hoãn.
Việc rà soát ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện cũng đạt kết quả đáng chú ý. Trong tổng số 198 ngành, nghề theo Phụ lục IV Luật Đầu tư năm 2025, đến ngày 20/5 đã bãi bỏ 56 ngành, nghề và sửa đổi 14 ngành, nghề. So với Luật Đầu tư năm 2020, tổng số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được cắt giảm đạt 40%.
Tại địa phương, đến hết tháng 5/2026, các phương án cắt giảm, đơn giản hóa đã được thực thi đối với 411 thủ tục hành chính, gồm bãi bỏ 86 thủ tục, sửa đổi, bổ sung 111 thủ tục.
Những con số trên cho thấy quyết tâm chính trị cao và tốc độ xử lý nhanh của các cơ quan trong đợt cao điểm cải cách. Quan trọng hơn, việc cắt giảm thủ tục đã gắn chặt hơn với mục tiêu cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, giải phóng nguồn lực và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Những định hướng lớn
Ngày 6/7, Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật ban hành Thông báo số 01-TB/BCĐTW về Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật tại Phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo.
Về Báo cáo về tình hình và giải pháp rà soát, sửa đổi, ban hành, bãi bỏ các quy định pháp luật để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong năm 2026, Ban Chỉ đạo đánh giá cao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã triển khai quyết liệt đợt cao điểm phân quyền, phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh…
Tuy nhiên, cải cách thủ tục hành chính không nên chỉ dừng ở chiến dịch và thống kê số lượng thủ tục hành chính được cắt giảm, đơn giản hóa. Điều căn bản là người dân, doanh nghiệp thật sự được thụ hưởng những lợi ích thiết thực như giảm thời gian, tiết kiệm chi phí, mở rộng cơ hội phát triển; đồng thời, các biểu hiện tùy nghi, xin - cho, nhũng nhiễu, tiêu cực phải thực sự được đẩy lùi.
Ban Chỉ đạo đề nghị các bộ, ngành, địa phương xác định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu. Kiểm soát chặt việc ban hành mới thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh; chỉ ban hành khi thật sự cần thiết, hợp pháp, hợp lý, chi phí tuân thủ thấp hơn lợi ích quản lý mang lại và không có giải pháp nào tối ưu hơn. Kiên quyết không để tình trạng thủ tục hành chính cắt giảm ở văn bản này, nhưng phát sinh điều kiện, giấy phép, yêu cầu mới ở văn bản khác hoặc trong tổ chức thực hiện
Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp chuyên đề về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị, một trong những nhiệm vụ trọng tâm là yêu cầu: “Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính gắn với chuyển đổi số; hoàn thiện Cổng Dịch vụ công quốc gia, bảo đảm vận hành ổn định, thông suốt, hiệu quả. Đối với thông tin, dữ liệu đã có trong các cơ sở dữ liệu và có thể khai thác, tái sử dụng thì quán triệt nguyên tắc không yêu cầu người dân, doanh nghiệp kê khai, cung cấp lại. Chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến phải được đánh giá bằng mức độ sử dụng thực tế, sự thuận tiện và thời gian, chi phí tiết giảm cho người dân, doanh nghiệp, không chỉ bằng số lượng thủ tục được cung cấp trực tuyến”.
Có thể nhận thấy, Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật cùng chỉ đạo tại Phiên họp chuyên đề về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị đã xác lập rõ hơn mục tiêu, phương thức và thước đo của cải cách thủ tục hành chính.
Điểm nổi bật đầu tiên là yêu cầu cải cách phải đem lại lợi ích thực chất cho người dân, doanh nghiệp. Trên thực tế, có thời điểm, kết quả cải cách thường được thể hiện bằng số thủ tục được rà soát, số văn bản được sửa đổi hoặc tỷ lệ dịch vụ công được cung cấp trực tuyến. Những chỉ số này cần thiết, nhưng chưa phản ánh đầy đủ người dân và doanh nghiệp đã bớt được bao nhiêu thời gian, giảm được bao nhiêu chi phí, thuận lợi hơn ra sao khi thực hiện thủ tục.
Theo kết luận, điều căn bản là người dân, doanh nghiệp phải thật sự được thụ hưởng những lợi ích thiết thực, gồm giảm thời gian, tiết kiệm chi phí, mở rộng cơ hội phát triển; các biểu hiện tùy nghi, xin - cho, nhũng nhiễu và tiêu cực phải được đẩy lùi.

Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện đầu tư kinh doanh là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục. Ảnh: Nam Nguyễn
Như vậy, thước đo cải cách phải chuyển từ số lượng thủ tục được xử lý sang chất lượng phục vụ và kết quả người dân, doanh nghiệp cảm nhận được. Một thủ tục đã được bãi bỏ trong văn bản nhưng tại bộ phận tiếp nhận vẫn phát sinh thêm xác nhận thì chưa phải cải cách. Thời hạn được rút ngắn trên quy trình nhưng hồ sơ thực tế vẫn bị kéo dài cũng không tạo ra giá trị.
Từ yêu cầu này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương phải coi cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện đầu tư kinh doanh là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu.
Chỉ đạo thứ hai, tập trung vào việc kiểm soát chặt thủ tục hành chính mới. Thay vì mặc nhiên cho rằng bổ sung giấy phép hoặc hồ sơ sẽ giúp quản lý chặt hơn, cơ quan soạn thảo phải phân tích tác động, tính toán chi phí xã hội và làm rõ tại sao không thể áp dụng tiêu chuẩn, dữ liệu số, hậu kiểm hoặc phương án quản lý khác. Đặc biệt, kết luận nhấn mạnh phải kiên quyết ngăn tình trạng thủ tục hành chính được cắt ở văn bản này nhưng lại phát sinh điều kiện, giấy phép, yêu cầu mới ở văn bản khác hoặc trong quá trình thực hiện.
Chỉ đạo thứ ba, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm trên cơ sở quản trị rủi ro; từ quản lý bằng giấy phép sang quản lý bằng tiêu chuẩn, quy chuẩn, dữ liệu số, trách nhiệm giải trình và thanh tra, kiểm tra. Tiền kiểm buộc người dân, doanh nghiệp phải chứng minh đáp ứng đầy đủ điều kiện trước khi được hoạt động. Hậu kiểm trên cơ sở quản trị rủi ro đặt trọng tâm vào tiêu chuẩn rõ ràng, trách nhiệm tự tuân thủ của doanh nghiệp và khả năng giám sát của cơ quan nhà nước.
Chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến phải được đánh giá bằng mức độ sử dụng thực tế, sự thuận tiện và thời gian, chi phí tiết giảm cho người dân, doanh nghiệp, không chỉ bằng số lượng thủ tục được cung cấp trực tuyến.
Hà Trang
1 giờ trước
1 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
14 phút trước
46 phút trước
36 phút trước
23 phút trước
1 phút trước
1 phút trước
1 phút trước
3 phút trước
10 phút trước
11 phút trước
11 phút trước
18 phút trước