🔍
Chuyên mục: Lao động - Việc làm

Cách đóng bảo hiểm thất nghiệp năm 2026

3 giờ trước
Từ ngày 1/1/2026, Luật Việc làm năm 2025 và các nghị định hướng dẫn chính thức có hiệu lực, trong đó quy định cụ thể cách xác định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp – yếu tố trực tiếp quyết định mức đóng và mức hưởng trợ cấp của người lao động khi mất việc.

Theo quy định, tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp được xác định theo từng nhóm đối tượng lao động, gắn chặt với tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Ảnh: Dũng Hiếu

Theo quy định mới, tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp được xác định theo từng nhóm đối tượng lao động, gắn chặt với tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Đối với người lao động hưởng lương theo chế độ do Nhà nước quy định, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc, kèm theo các khoản phụ cấp gồm: phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có).

Trong khi đó, với người lao động hưởng lương do người sử dụng lao động quyết định, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương tháng ghi trong hợp đồng lao động, bao gồm: Mức lương theo công việc hoặc chức danh; Các khoản phụ cấp lương; Các khoản bổ sung khác được trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.

Mức lương theo công việc hoặc chức danh được xác định theo thang lương, bảng lương do doanh nghiệp xây dựng và thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Các khoản phụ cấp nhằm bù đắp điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt hoặc mức độ thu hút lao động cũng được tính vào tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp, nếu đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Ngược lại, các khoản phụ cấp, khoản bổ sung phụ thuộc vào năng suất lao động, chất lượng công việc hoặc kết quả làm việc sẽ không được tính vào căn cứ đóng.

Nghị định 374/2025/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp quy định rõ cách xác định tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp đối với một số trường hợp cụ thể.

Với người lao động ngừng việc nhưng vẫn hưởng tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất, tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính theo mức lương thực tế trong thời gian ngừng việc.

Đối với người lao động làm việc không trọn thời gian, nếu tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất, tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp được xác định theo mức lương tính trong tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Trường hợp hợp đồng lao động thỏa thuận trả lương theo giờ, theo ngày hoặc theo tuần, tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy đổi tương ứng bằng tiền lương theo đơn vị thời gian nhân với số giờ, số ngày hoặc số tuần làm việc trong tháng.

Ngoài ra, người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp, các chức danh quản lý của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có hưởng lương sẽ đóng bảo hiểm thất nghiệp theo mức lương thực tế được hưởng theo quy định pháp luật.

Quy định mới cũng bổ sung trường hợp tạm dừng đóng bảo hiểm thất nghiệp. Theo đó, nếu người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp bị tạm giam hoặc tạm đình chỉ công việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, thì cả người lao động và người sử dụng lao động được tạm dừng đóng bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian này.

Sau đó, nếu người lao động được truy lĩnh đủ tiền lương, hai bên phải đóng bù bảo hiểm thất nghiệp cho thời gian đã tạm dừng, thực hiện đồng thời với việc đóng bù bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Từ ngày 1/1/2026, mức lương tối thiểu vùng áp dụng cho người lao động làm việc theo hợp đồng lao động được điều chỉnh tăng. Cụ thể:

Vùng I: 5,31 triệu đồng/tháng;

Vùng II: 4,73 triệu đồng/tháng;

Vùng III: 4,14 triệu đồng/tháng;

Vùng IV: 3,7 triệu đồng/tháng.

Mức lương tối thiểu vùng là căn cứ quan trọng để xác định mức lương tháng tối thiểu đóng bảo hiểm xã hội, qua đó làm tăng mức đóng bảo hiểm thất nghiệp tối thiểu của người lao động và người sử dụng lao động từ năm 2026.

Theo quy định, mức đóng bảo hiểm thất nghiệp hằng tháng vẫn được xác định bằng 1% tiền lương tháng của người lao động và 1% tiền lương tháng do người sử dụng lao động đóng, tính trên tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.

Luật Việc làm năm 2025 cũng điều chỉnh cách xác định trần hưởng trợ cấp thất nghiệp. Từ năm 2026, mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp, tối đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng tại tháng cuối cùng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Theo đó, mức trợ cấp thất nghiệp tối đa từ ngày 1/1/2026 là:

Vùng I: 26,55 triệu đồng/tháng;

Vùng II: 23,65 triệu đồng/tháng;

Vùng III: 20,7 triệu đồng/tháng;

Vùng IV: 18,5 triệu đồng/tháng.

Quy định này được áp dụng thống nhất cho người lao động, không còn phân biệt theo chế độ tiền lương như trước đây. Do đó, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp càng cao thì mức hưởng trợ cấp thất nghiệp càng lớn, trong phạm vi trần theo quy định.

Dũng Hiếu

TIN LIÊN QUAN

























Home Icon VỀ TRANG CHỦ