🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng làm rõ một số vấn đề lớn của các dự án luật trong lĩnh vực Công Thương

1 giờ trước
Thảo luận tại Tổ 3, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng làm rõ việc bãi bỏ một số điều trong Luật Thương mại và cơ chế mới về giá điện, điện khí LNG trong Luật Điện lực sửa đổi.

Chiều 20/10, tại phiên thảo luận Tổ 3 gồm các Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng, tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Lạng Sơn, đồng chí Lê Mạnh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Công Thương, người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo, đã tiếp thu ý kiến đại biểu và báo cáo làm rõ một số vấn đề lớn của Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực.

Đồng chí Lê Mạnh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Công Thương thảo luận tại Tổ 3.

Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng thông tin, quá trình sửa đổi bốn luật trong lĩnh vực thương mại đều tuân thủ các nội dung cốt lõi đã trình Quốc hội. Qua thảo luận, Bộ Công Thương ghi nhận một số ý lớn và báo cáo làm rõ thêm các vấn đề đại biểu quan tâm.

Hai mươi năm Luật Thương mại đồng hành cùng hội nhập

Về việc sửa đổi và bãi bỏ một số điều của Luật Thương mại, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết, Luật Thương mại có lịch sử hình thành sớm, được Quốc hội thông qua lần đầu ngày 10/5/1997, sau đó là Luật Thương mại năm 2005, thông qua ngày 14/6/2005.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng phát biểu.

Luật Thương mại đã hoàn thành vai trò, sứ mệnh, giúp Việt Nam hội nhập rất thành công, nhất là trong quá trình gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đồng thời thúc đẩy thị trường trong nước phát triển.

Bộ trưởng dẫn chứng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2005 mới đạt dưới 480 nghìn tỷ đồng, đến năm 2025 đã đạt trên 7 triệu tỷ đồng, tăng gần 15 lần. Luật cũng góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại phát triển đồng bộ.

Theo Bộ trưởng, trong 20 năm qua, trên cơ sở Luật Thương mại, nhiều luật chuyên ngành đã được xây dựng và ban hành như Luật Đấu giá tài sản, Luật Đấu thầu, Luật Quảng cáo, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 2015. Thực chất, nhiều nội dung của Luật Thương mại đã được chuyển hóa vào các bộ luật, luật chuyên ngành, với quy định cụ thể cho từng lĩnh vực theo quá trình phát triển.

Theo Bộ trưởng, dự thảo Luật sửa đổi bốn luật thuộc lĩnh vực thương mại đề xuất bãi bỏ 139 trong tổng số 324 điều của Luật Thương mại. Việc chưa sửa đổi toàn diện luật này xuất phát từ yêu cầu ưu tiên xử lý những vướng mắc cấp bách, nhất là các quy định chồng chéo, bất cập về thẩm quyền, đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền nhằm tháo gỡ khó khăn trong thực tiễn quản lý và hoạt động của doanh nghiệp.

Bãi bỏ một số điều không ảnh hưởng giải quyết tranh chấp thương mại

Trước băn khoăn của đại biểu Bùi Xuân Hải (Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng) rằng, việc bãi bỏ có thể ảnh hưởng đến hiệu lực của thỏa thuận trọng tài hoặc gây vướng mắc đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng khẳng định, việc bãi bỏ một số điều của Luật Thương mại không gây ảnh hưởng đến các giao dịch cũng như việc giải quyết tranh chấp trong thương mại. Các vấn đề này vẫn tiếp tục được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại biểu Bùi Xuân Hải (Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng).

Cụ thể, thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền và trình tự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tiếp tục được điều chỉnh theo Luật Trọng tài thương mại. Đối với hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG), các tập quán thương mại quốc tế như Incoterms, các quy định của Công ước và tập quán tiếp tục được áp dụng, không phụ thuộc vào việc bãi bỏ các quy định của Luật Thương mại.

Về sửa đổi Luật Quản lý ngoại thương, nhất là việc phân công trách nhiệm chứng nhận xuất xứ hàng hóa mà nhiều đại biểu quan tâm, Bộ trưởng cho biết, các Điều 32, 34, 35 đã quy định rõ, phân công cụ thể trách nhiệm đối với từng chủ thể liên quan.

“Cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện, bổ sung đầy đủ những nội dung còn chưa quy định rõ”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Sửa Luật Điện lực xuất phát từ yêu cầu thực tiễn

Đối với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết, Luật Điện lực số 61/2024/QH15 dù mới được Quốc hội thông qua cách đây khoảng hai năm nhưng cần sửa đổi, xuất phát từ những yêu cầu rất thực tiễn.

Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng: Luật Điện lực số 61/2024/QH15 dù mới được Quốc hội thông qua cách đây khoảng hai năm nhưng cần sửa đổi, xuất phát từ những yêu cầu rất thực tiễn.

Thứ nhất, thể chế hóa Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Thứ hai, luật hóa các quy định tại Nghị quyết số 253/2025/QH15 của Quốc hội quy định các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030. Thứ ba, tháo gỡ những khó khăn trong quá trình triển khai Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, với mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, cung ứng đủ điện cho nền kinh tế. Lần sửa đổi này tập trung vào bốn nhóm vấn đề lớn.

Nhóm vấn đề thứ nhất là cập nhật, điều chỉnh quy hoạch. Năm 2023, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 500/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch điện VIII; năm 2025 tiếp tục ban hành Quyết định số 768/QĐ-TTg điều chỉnh Quy hoạch điện VIII. Tuy nhiên, như một số đại biểu đã nêu, quá trình triển khai gặp nhiều khó khăn, vướng mắc về tính đồng bộ giữa quy hoạch chuyên ngành và quy hoạch địa phương khi điều chỉnh địa giới hành chính, thực hiện phân cấp, phân quyền. Vì vậy, theo Bộ trưởng việc sửa đổi nhằm giải quyết yêu cầu bảo đảm tính đồng bộ trong quy hoạch và tổ chức thực hiện.

Nhóm vấn đề thứ hai là triển khai các dự án điện lực trong quy hoạch đã được phê duyệt. Thời gian qua, dù Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương rất cố gắng, vẫn còn một số vướng mắc bắt buộc phải xử lý trong luật.

Bộ trưởng dẫn ví dụ, sau khi quy hoạch được ban hành, trình tự, thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư và triển khai các dự án lớn tại địa phương còn khá vướng mắc; quá trình xây dựng chủ trương đầu tư và văn bản chấp thuận nhà đầu tư có nhiều khâu trùng lặp, mất thời gian. Vì vậy, dự thảo luật lần này phân loại các dự án đã có trong quy hoạch, đủ điều kiện thì được miễn chủ trương đầu tư, sử dụng văn bản chấp thuận nhà đầu tư để khẳng định tính pháp lý và triển khai dự án theo đúng tiến độ quy hoạch.

Nhóm vấn đề thứ ba liên quan đến đàm phán hợp đồng mua bán điện. Thực tế, sau khi lựa chọn nhà đầu tư, việc đàm phán mua bán điện thường kéo dài do Luật Điện lực số 61/2024/QH15 quy định giá điện trúng thầu chỉ là giá tối đa, hai bên vẫn phải tiếp tục đàm phán.

Bộ trưởng nhìn nhận, khó khăn nằm ở chỗ rất khó xác định mức giá tối ưu, trong khi lợi ích của bên mua và bên bán khó gặp nhau. Vì vậy, quá trình đàm phán thường kéo dài vài năm, thậm chí có dự án đã vận hành thương mại nhưng vẫn chưa ký được hợp đồng mua bán điện.

Bộ Công Thương đã tham mưu Chính phủ đề xuất Quốc hội xem xét thông qua, quy định khi đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, giá điện trúng thầu được sử dụng làm cơ sở để ký kết hợp đồng mua bán điện. Cách làm này, theo Bộ trưởng vừa tránh được các rủi ro phát sinh, vừa tiết kiệm thời gian đàm phán.

Đại biểu Vũ Văn Tiến (Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng).

Nhóm vấn đề thứ tư là chính sách khuyến khích phát triển nguồn điện, nhất là điện khí, nội dung đại biểu Vũ Văn Tiến (Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng) quan tâm. Bộ trưởng cho biết, điện khí hiện có hai loại hình: sử dụng khí tự nhiên trong nước và sử dụng khí hóa lỏng (LNG) nhập khẩu.

Với sử dụng khí tự nhiên trong nước, chính sách là huy động tối đa theo khả năng cấp khí. Lợi ích tổng thể ở đây bao gồm phát triển thăm dò, khai thác, phát triển công nghiệp dầu khí; nguồn thu của Nhà nước từ khai thác khí trong nước rất lớn. Bên cạnh đóng góp ngân sách, việc này còn giúp phát triển ngành công nghiệp và tạo việc làm.

Tuy nhiên, nguồn khí trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu phát triển điện khí, buộc phải huy động nguồn LNG nhập khẩu. Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, giai đoạn 2025-2035 có khoảng 21 dự án điện khí LNG nhập khẩu với tổng quy mô khoảng 36.000 MW, riêng giai đoạn 2025-2030 khoảng hơn 23.000 MW. Để huy động nguồn điện này, cần có những cơ chế nhất định.

Bộ trưởng nhận định, quy định hiện hành tại Luật số 61 và Nghị định số 56 chưa đủ hấp dẫn nhà đầu tư. Sản lượng hợp đồng tối thiểu dài hạn (Qc) hiện quy định ở mức 65% vẫn chưa bảo đảm, trong khi các dự án này đầu tư lượng vốn rất lớn, vai trò dự phòng cũng rất lớn. Việc huy động điện được thực hiện theo thị trường điện toàn phần, căn cứ chào giá và lịch huy động. Do đó, dù luật có quy định Qc, sản lượng thực tế được huy động phụ thuộc hoàn toàn vào chào giá trên thị trường.

Vì vậy, trong dự thảo lần này, Bộ Công Thương đã tham mưu Chính phủ ban hành giá công suất bên cạnh giá điện năng. Giá công suất là khoản trả cho các nguồn điện sẵn sàng phát khi thị trường có nhu cầu, nhằm bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư, đồng thời không tác động lớn đến mặt bằng giá chung của nền kinh tế.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng: Các nội dung về phát triển điện gió ngoài khơi, năng lượng tái tạo và các vấn đề liên quan đã được thiết kế trong dự thảo theo xu hướng chuyển dịch năng lượng, phù hợp với cam kết của Việt Nam trong phát triển xanh.

Nguyên Khánh

TIN LIÊN QUAN



























Home Icon VỀ TRANG CHỦ