Bài 3: Xây dựng nền sản xuất đủ mạnh, giảm phụ thuộc bên ngoài
LTS: Nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn, gắn sâu vào thương mại và đầu tư quốc tế, nên mỗi “cú sốc” bên ngoài đều tác động trực tiếp đến tăng trưởng, sản xuất và đời sống trong nước. Trong bối cảnh môi trường quốc tế biến động nhanh và khó lường như hiện nay, yêu cầu tự chủ chiến lược đối với Việt Nam trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Theo các nhà quản lý, chuyên gia kinh tế, tự chủ chiến lược cần phải được xây dựng từ năng lực nội sinh của nền kinh tế. Đó là một nền sản xuất đủ mạnh giúp giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài; một cộng đồng doanh nghiệp có sức cạnh tranh giúp Việt Nam không chỉ là “mắt xích” gia công, mà từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị; một thị trường trong nước ổn định tạo “đệm an toàn” khi thị trường quốc tế biến động.
Bà NGUYỄN THỊ LÂM GIANG, Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công thương): Tự chủ bằng công nghệ chiến lược

Bà Nguyễn Thị Lâm Giang
Ngày 12-6-2025, Chính phủ đã có Quyết định số 1131 ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược xác định 11 nhóm công nghệ chiến lược với 35 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược.
Ngày 28-12-2025, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2815 phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai ngay.
Tiếp đó, tại Thông báo số 22 về Kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Phiên họp chuyên đề về công nghệ chiến lược đã nêu rõ, rà soát và hoàn thiện danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo hướng tinh gọn, tập trung vào những lĩnh vực có ý nghĩa quyết định đối với phát triển đất nước cả trước mắt và lâu dài.
Thông báo số 22 đã đưa ra 6 định hướng lớn đó là: mục tiêu phát triển công nghệ chiến lược phải xuất phát từ nhu cầu phát triển của nền kinh tế và lợi ích lâu dài của quốc gia. Đồng thời xác định danh mục công nghệ chiến lược theo 2 nhóm: nhóm các công nghệ đã có thị trường và nhóm các công nghệ tạo động lực tăng trưởng mới.
Như vậy, công nghệ chiến lược được xác định là công cụ giải bài toán lớn của từng ngành, từng lĩnh vực, phải có doanh nghiệp dẫn dắt, có thị trường, có sản phẩm cụ thể. Bộ Công thương cũng đã xác định công nghệ chiến lược là công cụ giải bài toán lớn của quốc gia và ngành, tạo tăng trưởng, tự chủ và năng lực cạnh tranh.
Công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược phải gắn với nhu cầu, thị trường, sản xuất, giải quyết các bài toán thực tiễn, tạo ra sản phẩm cụ thể, đo lường được bằng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng, góp phần vào tăng trưởng kinh tế hai con số.
Về cơ chế triển khai, Bộ Công thương sẽ đẩy mạnh phương thức đặt hàng gắn với kết quả đầu ra cụ thể. Việc khoán chi theo sản phẩm cuối cùng sẽ được áp dụng thực chất hơn, hướng tới các sản phẩm có thể đo lường được, như công nghệ đạt mức độ sẵn sàng cao, quy trình hoàn chỉnh hoặc sản phẩm có khả năng thương mại hóa.
Về cơ chế phối hợp, Bộ Công thương sẽ thúc đẩy mạnh mẽ liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp nhằm hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất trong các ngành công nghiệp, từng bước hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo theo ngành; đồng thời phát triển các cụm liên kết ngành, qua đó tập trung nguồn lực, chia sẻ hạ tầng và thúc đẩy lan tỏa công nghệ.
Thay vì đặt hàng các đề tài nhỏ lẻ, rời rạc, chúng ta cần xây dựng các chuỗi nhiệm vụ kết nối từ nguồn nguyên liệu chiến lược đến công nghệ tinh chế sâu, thiết bị nội địa hóa và sản phẩm hàng hóa có giá trị thặng dư cao.
Ông PHẠM VĂN QUÂN, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công thương): Công nghiệp hỗ trợ giúp phát triển nền kinh tế tự chủ

Ông Phạm Văn Quân
Từ năm 2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định 111, xác định công nghiệp hỗ trợ là nền tảng xương sống của sản xuất quốc gia, đồng thời tạo cơ chế ưu đãi cho doanh nghiệp đầu tư.
Đến tháng 7-2025, Nghị định 205 của Chính phủ ra đời với nhiều đổi mới mang tính đột phá, tập trung vào các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, hàm lượng công nghệ lớn và thân thiện với môi trường.
Đây được xem là một bước chuyển từ phát triển “theo chiều rộng” sang phát triển “theo chiều sâu và xanh”. Một điểm mới quan trọng là các doanh nghiệp FDI khi muốn hưởng ưu đãi phải liên kết với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước, hình thành chuỗi cung ứng chung.
Cách tiếp cận này không chỉ khuyến khích hợp tác mà còn tạo động lực để doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp công nghệ, đạt chuẩn sản xuất toàn cầu và giảm khí thải carbon.
Liên kết là điều kiện tiên quyết, nhưng nền tảng bền vững vẫn nằm ở năng lực nội tại của doanh nghiệp trong nước. Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ, thiếu vốn và công nghệ để đầu tư chiều sâu, trong khi yêu cầu về năng suất, an toàn môi trường và tiết kiệm năng lượng ngày càng khắt khe.
Để tháo gỡ, Bộ Công thương đã xây dựng mạng lưới trung tâm hỗ trợ phát triển công nghiệp, nơi doanh nghiệp được tư vấn, thử nghiệm sản phẩm và tiếp cận công nghệ mới trước khi thương mại hóa. Cùng với đó là các chương trình đào tạo kỹ sư, chuyển giao công nghệ xanh, kết nối thị trường quốc tế và ưu đãi thuế cho doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất sạch.
Cũng theo Nghị định 205, doanh nghiệp tham gia vào hệ thống trung tâm được hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ chi phí nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm, giúp giảm đáng kể gánh nặng đầu tư ban đầu. Đây là tiền đề để doanh nghiệp Việt Nam mạnh dạn đổi mới công nghệ, phát triển vật liệu mới, sản phẩm tiết kiệm năng lượng và thân thiện môi trường.
Thể chế chính sách cũng đang trở thành lợi thế cạnh tranh mới của Việt Nam. Việc ban hành và cập nhật các nghị quyết lớn như Nghị quyết số 57, Nghị quyết số 68 đã mở ra không gian phát triển đồng bộ cho công nghiệp nền tảng, công nghiệp chiến lược và công nghiệp hỗ trợ.
Về tín dụng, Bộ Công thương đang phối hợp với các ngân hàng chính sách để giảm lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, đồng thời chuẩn bị thành lập quỹ phát triển công nghiệp chiến lược và quỹ công nghiệp nền tảng, tạo nguồn vốn dài hạn cho các dự án công nghệ cao và dự án xanh.
Công nghiệp hỗ trợ không chỉ là mắt xích của tăng trưởng, mà còn là lực đẩy cho quá trình chuyển đổi xanh quốc gia. Các hoạt động xúc tiến đầu tư, hội thảo, kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa, nghiên cứu đổi mới công nghệ và hợp tác quốc tế đang được triển khai rộng khắp, tạo nền tảng cho Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Với quyết tâm thể chế hóa nhanh, hỗ trợ kịp thời và đồng hành cùng doanh nghiệp, các chính sách mới của Chính phủ và Bộ Công thương đang mở đường cho một giai đoạn phát triển mới, nơi công nghiệp hỗ trợ không chỉ đóng góp cho tăng trưởng mà còn trở thành động lực của nền sản xuất xanh, tự chủ và bền vững.
Lưu Thủy (ghi)
3 giờ trước
1 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
9 ngày trước
12 ngày trước
14 ngày trước
19 ngày trước
20 ngày trước
20 ngày trước
21 phút trước
18 phút trước
3 phút trước
4 phút trước
4 phút trước
8 phút trước
10 phút trước
15 phút trước
16 phút trước