Bài 2: Xây dựng thương hiệu, tăng sức cạnh tranh

Đưa bản sắc vào "kể chuyện" trong nghệ thuật biểu diễn là một hướng đi của công nghiệp văn hóa. (Ảnh: QUANG HƯNG)
Bước vào thế kỷ XXI, khi toàn cầu hóa và cách mạng công nghệ số làm thay đổi sâu sắc cách thức các quốc gia cạnh tranh và khẳng định vị thế, văn hóa ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực chiến lược. Nhiều quốc gia đầu tư mạnh cho công nghiệp sáng tạo, quảng bá hình ảnh đất nước, phát triển sản phẩm văn hóa có khả năng chinh phục thị trường quốc tế, chuyển hóa các giá trị văn hóa thành lợi thế cạnh tranh…
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã đặt ra một số chỉ tiêu: đến năm 2030 ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP, hình thành từ 5 đến 10 thương hiệu quốc gia về văn hóa; xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật; thành lập thêm từ 1-3 trung tâm văn hóa Việt Nam tại nước ngoài, ưu tiên các địa bàn đối tác chiến lược toàn diện; Tầm nhìn đến năm 2045: Công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP, có 10 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa tầm vóc quốc tế; phấn đấu thêm khoảng 8-10 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh, phấn đấu nằm trong tốp 3 khu vực ASEAN và tốp 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa…
Nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra, Nghị quyết nêu 8 nhiệm vụ, giải pháp; nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao về nhận thức và hành động nhằm phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới; hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hóa; thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa, định vị sản phẩm văn hóa thương hiệu quốc gia gắn với phát triển du lịch văn hóa; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, phát huy giá trị văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
Việt Nam là quốc gia có bề dày lịch sử và sự đa dạng văn hóa đặc sắc trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, nhiều giá trị văn hóa vẫn tồn tại như những “mỏ vàng” khuất lấp, chưa được khai thác hiệu quả. Thực tiễn quốc tế cho thấy, tài nguyên văn hóa chỉ thật sự trở thành nguồn lực phát triển khi được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ và các giá trị có khả năng tham gia vào đời sống kinh tế-xã hội. Nhìn sang các quốc gia trong khu vực và thế giới, có thể thấy không một quốc gia nào trở thành cường quốc văn hóa hoặc tạo dựng được ảnh hưởng toàn cầu chỉ nhờ truyền thống lâu đời hay sở hữu kho tàng văn hóa phong phú. Điều làm nên thành công của các quốc gia này là khả năng chuyển hóa bản sắc thành sản phẩm sáng tạo, đưa các giá trị văn hóa bản địa bước vào đời sống đương đại và tiếp cận thị trường quốc tế.
Nhìn từ góc độ đó, để góp phần đánh thức và phát huy nguồn lực văn hóa của dân tộc trong điều kiện mới, điện ảnh, thiết kế, quảng cáo, mỹ thuật ứng dụng, thời trang, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi điện tử, nội dung số hay du lịch văn hóa đều là những lĩnh vực có khả năng kết nối trực tiếp giữa sáng tạo văn hóa với thị trường, giữa bản sắc dân tộc với nhu cầu tiêu dùng hiện đại. Quan trọng hơn, công nghiệp văn hóa không chỉ tạo ra doanh thu mà còn xây dựng hình ảnh, thương hiệu quốc gia. Khi một sản phẩm văn hóa của Việt Nam được quốc tế đón nhận, hình ảnh đất nước cũng theo đó được lan tỏa. Bởi vậy, phát triển công nghiệp văn hóa chính là một hình thức đầu tư cho thương hiệu quốc gia.
Trong nhiều thế kỷ, sức mạnh của một quốc gia thường được đo bằng quy mô lãnh thổ, tiềm lực quân sự hoặc sức mạnh kinh tế. Nhưng trong thế giới ngày nay, khả năng tạo ảnh hưởng bằng các giá trị văn hóa ngày càng trở thành yếu tố quan trọng không kém. Ông Jonathan Baker-Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam đánh giá: Việt Nam đang sở hữu nguồn tài sản văn hóa rất lớn. Nếu biết kết nối di sản với sáng tạo, giáo dục và công nghệ, văn hóa sẽ trở thành động lực phát triển và là kênh hiệu quả để nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
Ở góc nhìn vĩ mô, xuất khẩu văn hóa không đơn thuần là bán ra nước ngoài các sản phẩm nghệ thuật hay giải trí, sâu xa hơn đây là quá trình đưa hình ảnh, giá trị và bản sắc dân tộc vượt qua biên giới quốc gia để trở thành một phần trong nhận thức của cộng đồng quốc tế. Những năm gần đây, Việt Nam đã ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực trong hoạt động này. Điện ảnh Việt Nam liên tục xác lập các kỷ lục mới về doanh thu phòng vé. Trong lĩnh vực du lịch, hàng loạt địa danh của Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn trên bản đồ du lịch thế giới. Ẩm thực Việt Nam liên tục được các tổ chức quốc tế uy tín vinh danh.
Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan, phần lớn các kết quả hiện nay vẫn mang tính điểm sáng đơn lẻ. Dù sở hữu nhiều tài nguyên văn hóa nhưng khả năng chuyển hóa thành giá trị kinh tế và giá trị thương hiệu vẫn còn hạn chế. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, đại biểu Quốc hội chia sẻ: Để biến những lợi thế thành sức mạnh cạnh tranh cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, xây dựng hệ sinh thái sáng tạo, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và tăng cường liên kết giữa văn hóa với công nghệ, du lịch và thị trường.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không quốc gia nào xây dựng thành công thương hiệu văn hóa chỉ bằng một vài sản phẩm nổi tiếng. Làn sóng Hallyu (văn hóa Hàn Quốc) là kết quả đầu tư của Hàn Quốc suốt nhiều thập niên cho công nghiệp nội dung, đào tạo nhân lực sáng tạo, phát triển doanh nghiệp văn hóa, mở rộng hệ thống phân phối và hỗ trợ tiếp cận thị trường quốc tế. Chiến lược “Cool Japan” (Nhật Bản thú vị) của Nhật Bản không đơn thuần là quảng bá anime, manga hay ẩm thực mà là tạo dựng một hệ sinh thái giúp các giá trị văn hóa được tái sáng tạo bằng ngôn ngữ hiện đại và tiếp cận người tiêu dùng toàn cầu. Điểm chung của những mô hình thành công là sự liên kết chặt chẽ giữa văn hóa, du lịch, công nghệ, giáo dục, truyền thông và ngoại giao.
Đó là những kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam. Một bộ phim thành công cần được kết nối với du lịch. Một di sản nổi tiếng cần được gắn với các sản phẩm sáng tạo. Một nền tảng số cần trở thành kênh đưa nội dung văn hóa Việt Nam tới công chúng toàn cầu. Để làm được điều này, cần phải xây dựng hệ sinh thái phát triển quốc gia. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế; doanh nghiệp đóng vai trò đầu tư và tổ chức thị trường; giới sáng tạo tạo ra nội dung; các địa phương phát huy lợi thế riêng; còn truyền thông và ngoại giao văn hóa mở rộng không gian lan tỏa. Chỉ khi các mắt xích ấy được kết nối đồng bộ, sức mạnh mềm mới có thể chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh thật sự.
Từ những tầm nhìn, quyết sách sáng suốt, một hành trình mới đang được mở ra. Hành trình ấy bên cạnh việc hướng tới những mục tiêu chuyển từ tư duy quảng bá hình ảnh sang kiến tạo sức mạnh mềm; từ tổ chức các hoạt động đơn lẻ sang xây dựng hệ sinh thái văn hóa; từ giới thiệu giá trị sang tạo dựng ảnh hưởng; từ khai thác tài nguyên văn hóa sang phát triển kinh tế văn hóa và công nghiệp sáng tạo, đưa văn hóa trở thành một nguồn lực chiến lược trong tổng thể quá trình hội nhập và phát triển đất nước, sâu xa hơn là xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; thống nhất trong đa dạng; mang đặc trưng dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học, hiện đại.
------------------------
(Tiếp theo và hết) ()
PHONG ĐIỆP
3 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
9 ngày trước
12 ngày trước
16 ngày trước
24 ngày trước
24 ngày trước
27 ngày trước
1 giờ trước
41 phút trước
7 phút trước
7 phút trước
12 phút trước
19 phút trước
21 phút trước
26 phút trước
27 phút trước