🔍
Chuyên mục: Tài chính

Áp lực vốn trung - dài hạn vẫn căng thẳng

1 giờ trước
Hệ thống ngân hàng đang phải đối mặt với áp lực cân đối vốn trung hạn, dài hạn và nhu cầu tín dụng khổng lồ của nền kinh tế trong giai đoạn mới.

Chị Nguyễn Phương, trú tại phường Tây Mỗ, Hà Nội vừa nhận được lời chào mời lãi suất đầy hấp dẫn từ nhân viên VikkiBank. Theo đó, với số tiền gửi từ 200 triệu đồng trở lên ở kỳ hạn 6 tháng, chị có thể hưởng mức lãi suất 8,98%/năm nếu nhận lãi đầu kỳ. Trong trường hợp nhận lãi cuối kỳ, con số này lên tới 9,2%/năm và nếu tính lãi kép thì mức sinh lời có thể chạm mốc 9,4%. Đây là những con số cao đột biến so với mặt bằng chung của năm trước.

"Sức nóng" từ cuộc đua lãi suất

Mặt bằng lãi suất niêm yết công khai cũng cho thấy xu hướng đi lên ở một số nhà băng. Điển hình là ngày 20/7, ACB đã nâng thêm 0,5%/năm lãi suất tiết kiệm cho các kỳ hạn từ 6 - 12 tháng. Cụ thể, lãi suất kỳ hạn 6 tháng là 7,6%/năm, kỳ hạn 9 tháng là 7,7% và kỳ hạn 12 tháng lên mức 7,8%.

Một số tổ chức tín dụng khác dù không trực tiếp tăng lãi suất nhưng lại tung ra các chương trình quà tặng và thưởng tiền mặt để giữ chân khách hàng. Sự dịch chuyển này cho thấy các ngân hàng đang chấp nhận chi phí vốn cao hơn để củng cố nguồn tiền gửi trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt.

Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn ngắn hạ nhiệt nhưng lãi suất huy động dân cư lại không ngừng tăng.

Trái ngược với đà tăng của lãi suất huy động, thị trường liên ngân hàng lại ghi nhận xu hướng giảm ở các kỳ hạn ngắn. Trong tuần từ 20 - 24/7, lãi suất qua đêm đã giảm mạnh 90 điểm cơ bản xuống còn 2,97%/năm. Các kỳ hạn 1 tuần giảm 81 điểm cơ bản xuống 3,81%/năm. Lãi suất kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng cùng giảm 44 điểm cơ bản, lần lượt còn 6,65% và 7,63%/năm. Duy chỉ có lãi suất kỳ hạn 2 tuần tăng 22 điểm cơ bản, lên 5,6%/năm.

Xu hướng giảm tiếp tục kéo dài sang phiên ngày 28/7, lãi suất qua đêm lùi sâu về mức 2,17%/năm, đánh dấu mức thấp nhất kể từ đầu năm 2026. Tuy nhiên, sự sụt giảm này chỉ mang tính cục bộ ở nhóm kỳ hạn cực ngắn, trong khi tại kỳ hạn 1 tuần là 4,53%; 2 tuần 5,23% và 1 tháng 6,84%. Đặc biệt ở kỳ hạn dài, lãi suất niêm yết ở mức cao như 3 tháng là 8,01%, 6 tháng 8,48% và 9 tháng 9,26%.

Theo đó, lãi suất kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng hiện vẫn cao gấp 3 - 4 lần so với lãi suất qua đêm. Các chuyên gia từ Yuanta cho rằng sự chênh lệch rộng giữa lãi suất ngắn hạn và trung hạn cho thấy nhu cầu cân đối vốn của các tổ chức tín dụng vẫn rất lớn. Áp lực này thể hiện rõ hơn ở phía cầu tín dụng.

Trong báo cáo vĩ mô vừa công bố, nhóm phân tích Công ty chứng khoán ACBS dự báo, mặt bằng lãi suất trong nước khó có dư địa giảm trong ngắn hạn. Tính đến ngày 10/7, tăng trưởng tín dụng đạt 7,91% so với đầu năm, vượt trội so với mức tăng trưởng huy động (6,07%), đẩy khoảng trống thanh khoản của hệ thống lên tới khoảng 2,7 triệu tỷ đồng.

Theo phân tích từ Công ty chứng khoán ACBS, mặt bằng lãi suất trong nước khó có dư địa giảm trong ngắn hạn khi cầu vốn đang vượt xa cung vốn.

Ông Phan Quốc Bửu, Giám đốc Trung tâm Phân tích và Nghiên cứu của BSC nhận định, khoảng cách giữa dư nợ tín dụng và tiền gửi đang gây áp lực nặng nề lên hệ thống. Ngoài ra, một lượng tiền gửi khổng lồ khoảng 1,6 đến 1,7 triệu tỷ đồng của Kho bạc Nhà nước, tương đương 15% tổng tiền gửi toàn hệ thống, hiện vẫn chưa thực sự lưu thông hiệu quả vào nền kinh tế. Điều này khiến thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục rơi vào trạng thái căng thẳng dù Ngân hàng Nhà nước đã có những biện pháp can thiệp hỗ trợ.

Lời giải cho nguồn vốn trung, dài hạn

Nhu cầu vốn của nền kinh tế Việt Nam đang ở mức rất cao, dự kiến năm 2026 khoảng 5,1 triệu tỷ đồng và giai đoạn 2026-2030 lên tới 38,5 triệu tỷ đồng.

Bên cạnh áp lực tăng trưởng, các ngân hàng còn phải đối mặt với các tiêu chuẩn an toàn khắt khe hơn. Thông tư 14/2025/TT-NHNN thay thế Thông tư 41/2016 đã siết chặt các tiêu chuẩn vốn và hướng tới tiệm cận chuẩn Basel III. Việc này buộc các ngân hàng thương mại phải nâng cao tỷ lệ an toàn vốn (CAR) và chú trọng xây dựng bộ đệm vốn vững chắc.

Đặc biệt, khi tín dụng bất động sản đang chiếm khoảng 28 - 30% tổng dư nợ, việc đảm bảo an toàn hệ thống trở thành ưu tiên hàng đầu. Các chuyên gia MBS dự báo rằng để đảm bảo các quy định này, nhiều ngân hàng có thể sẽ hạn chế trả cổ tức bằng tiền mặt trong thời gian tới.

Dù Ngân hàng Nhà nước đã triển khai nhiều giải pháp như nới tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn lên 40% hay điều chỉnh cách tính tỷ lệ LDR, nhưng đây chỉ là những biện pháp hỗ trợ thanh khoản trong ngắn hạn. Ông Bùi Văn Huy, Tổng giám đốc FDIT nhận định tình trạng "huy động ngắn, cho vay dài" là bản chất của ngân hàng thương mại nhưng cần được kiểm soát trong ngưỡng an toàn. Việc nới trần các tỷ lệ chỉ là công cụ quản lý tạm thời, chứ không giải quyết được căn nguyên của vấn đề.

Để giải quyết triệt để áp lực lên hệ thống ngân hàng, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần phát triển mạnh mẽ hơn các kênh dẫn vốn khác. Ông Phan Duy Hưng, Giám đốc Cấp cao, Ban Định chế Tài chính, VIS Rating nhấn mạnh vai trò của thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường cổ phiếu và các quỹ đầu tư dài hạn trong việc chia sẻ gánh nặng cung ứng vốn trung và dài hạn.

Chỉ khi cấu trúc thị trường vốn được cơ cấu lại theo hướng đa dạng hóa, hệ thống ngân hàng mới có thể thoát khỏi áp lực thanh khoản thường trực và mặt bằng lãi suất mới có cơ hội ổn định bền vững.

Huyền Anh

TIN LIÊN QUAN




















Home Icon VỀ TRANG CHỦ