Áp lực vật liệu trong chu kỳ đầu tư công mới
“Hiện nay mới đầu tư công 3 triệu tỉ đồng mà nguồn nguyên vật liệu, sắt, thép, cát, đá, thiếu lên thiếu xuống, bây giờ đầu tư lên tới 8,2 triệu sẽ còn căng thẳng hơn”, đại biểu Trần Hoàng Ngân (TPHCM) nói.

Trong phiên bế mạc kỳ họp thứ nhất vào ngày 24-4-2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Nghị quyết về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030. Theo đó, tổng mức vốn đầu tư công năm năm tới là 8,22 triệu tỉ đồng. Trong đó, vốn ngân sách trung ương là 3,8 triệu tỉ đồng, ngân sách địa phương là 4,42 triệu tỉ đồng.
Một phần vốn trung ương (717.000 tỉ đồng) đã được phân bổ chi tiết. Phần còn lại khoảng 2,7 triệu tỉ đồng sẽ tiếp tục được Chính phủ phân bổ sau khi các bộ, ngành, địa phương hoàn tất việc đánh giá hiệu quả kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo Kết luận 18 ngày 2-4-2026 của Trung ương.
Ưu tiên vẫn dành cho các dự án quan trọng quốc gia, các công trình trọng điểm, cũng như các chương trình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị.
Quy mô vốn càng lớn, kỳ vọng đặt vào đầu tư công càng cao, nhưng kèm theo đó áp lực về nguồn cung và giá cả vật liệu xây dựng cũng gia tăng tương ứng. Trên nghị trường, vấn đề này được các đại biểu Quốc hội đặc biệt lưu ý.
Đại biểu Tô Ái Vang (Cần Thơ) cho rằng, câu chuyện thiếu cát, đá và biến động giá không còn là khó khăn riêng lẻ, mà đang trở thành một trong những rào cản lớn với các dự án đầu tư công, nhất là tại đồng bằng sông Cửu Long - nơi nền đất yếu khiến nhu cầu vật liệu san lấp luôn ở mức cao.
Nhìn rộng hơn, đại biểu Trần Hoàng Ngân (TPHCM) cảnh báo, với quy mô vốn 8,2 triệu tỉ đồng, cao hơn khoảng 2,7 lần so với giai đoạn trước, áp lực lên thị trường vật liệu sẽ căng thẳng hơn nhiều.
“Bối cảnh thế giới hiện nay rất khó đoán định và bất an, giá cả bấp bênh và khả năng các dự án phải điều chỉnh tổng dự toán, do đó Chính phủ cần hết sức quan tâm đến các điều này. Tôi ủng hộ quan điểm của Thủ tướng, tiếp tục rà soát để cắt giảm ít nhất 30% số dự án và có thể giảm nhiều hơn nữa”, ông Ngân nói.
Những năm gần đây, tình trạng thiếu nguyên vật liệu xây dựng rất căng thẳng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ của nhiều dự án. Trong cuộc họp mới đây về giải ngân đầu tư công năm 2026, Chính phủ đánh giá tình trạng thiếu nguồn cung vật liệu xây dựng vẫn chưa được xử lý, khắc phục kịp thời.
Để bảo đảm đủ nguồn cung cho các dự án, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trong quí 2-2026 phải hoàn thành quy hoạch các mỏ nguyên vật liệu; khẩn trương tháo gỡ khó khăn liên quan đến cấp phép mỏ đá, cát, đất.
Thủ tướng cũng yêu cầu gắn trách nhiệm nguồn vật liệu với phân bổ vốn: nếu địa phương không bảo đảm đủ nguồn cung, Bộ Tài chính sẽ báo cáo điều chuyển vốn; khi nào cam kết có đủ nguyên vật liệu trên địa bàn mới bố trí vốn.
Từ góc nhìn tại nghị trường, vấn đề không chỉ dừng ở câu chuyện nguồn cung hay tổ chức thực hiện. Đại biểu Nguyễn Duy Minh (Đà Nẵng) chỉ ra một bất cập mang tính cấu trúc. Ông phân tích: dù tài nguyên khoáng sản thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý, nhưng khi triển khai các dự án đầu tư công, nguyên vật liệu vẫn phải mua theo cơ chế thị trường.
Thực tế này đang tạo ra “vòng lặp chi phí” bất lợi cho ngân sách: Nhà nước phải dùng tiền ngân sách để mua lại chính nguồn tài nguyên của mình với giá cao. Nghịch lý này không chỉ làm đội tổng mức đầu tư, mà còn khiến nhiều dự án rơi vào tình trạng thiếu vật liệu, chậm tiến độ giải ngân, qua đó ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư (ICOR).
Cũng theo đại biểu Nguyễn Duy Minh, dù đã có quy hoạch tài nguyên khoáng sản, bao gồm các mỏ vật liệu xây dựng, nhưng cách tiếp cận hiện nay vẫn mang tính tình thế, chưa hình thành được một chiến lược chủ động phục vụ đầu tư công.
Thực tế, không ít dự án đến khi triển khai mới bắt đầu tìm nguồn vật liệu, làm thủ tục cấp phép khai thác, thậm chí điều chỉnh quy hoạch. Việc “thiếu thì tháo gỡ, vướng thì xử lý” cho thấy chưa có sự chuẩn bị từ sớm theo nhu cầu của từng dự án, từng vùng. Điều này cũng phản ánh quy hoạch hiện nay mới dừng ở quản lý tài nguyên, chưa gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch và kế hoạch đầu tư công.
“Để giải quyết vấn đề này, trong bối cảnh nhu cầu đầu tư rất lớn cho giai đoạn 2026-2030, đề nghị Chính phủ có cơ chế điều tiết giá hoặc dự trữ chiến lược như cách làm đối với xăng dầu hay lương thực”, đại biểu Nguyễn Duy Minh đề xuất.
“Tất nhiên là không cần thiết phải xây dựng hệ thống kho bãi như xăng dầu hay lương thực, dự trữ chiến lược”, ông nhấn mạnh. Thay vào đó, “làm tốt quy hoạch các mỏ gắn với mặt bằng sạch, thủ tục cấp phép khai thác nhanh chóng. Khi cần vật liệu, muốn hạ giá thành, Nhà nước cấp quyền khai thác ngay”.
Nhìn rộng hơn, ông Minh cho rằng, “giải quyết nghịch lý về chi phí tài nguyên không chỉ là bài toán về giá cả mà là yêu cầu về hoàn thiện thể chế quản lý tài sản công để bảo đảm địa tô tài nguyên được quay vòng phục vụ phát triển thay vì làm tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nước”.
Cùng hướng tiếp cận điều tiết thị trường, đại biểu Nguyễn Trúc Sơn (Vĩnh Long) đề xuất hình thành một cơ chế tương tự “quỹ vật liệu xây dựng” để điều tiết giá cát, đá, qua đó hạn chế những biến động đột biến gây khó khăn cho các dự án.
Các đại biểu Quốc hội cũng cho rằng, cần giảm áp lực lên nguồn cung truyền thống. Đại biểu Tô Ái Vang đề xuất sớm chuẩn hóa quy trình kỹ thuật để đưa cát biển vào sử dụng đại trà trong san lấp các tuyến cao tốc, nhất là ở những đoạn không ảnh hưởng đến đất canh tác nông nghiệp.
Với các khu vực có nền địa chất yếu, điển hình như đồng bằng sông Cửu Long, việc chuyển từ nền đường đắp cát sang xây dựng cầu cạn tuy làm tăng chi phí đầu tư ban đầu, nhưng có thể giảm nhu cầu cát từ 30-50%, đồng thời nâng cao độ bền công trình và khả năng thoát lũ.
Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống dữ liệu số về trữ lượng cát, đá trên toàn vùng để điều phối linh hoạt giữa các địa phương, ưu tiên cho các dự án trọng điểm quốc gia.
Đặc biệt, trong bối cảnh giá cát tại chân công trình có thời điểm tăng hơn 40%, đại biểu Tô Ái Vang nhấn mạnh: các địa phương cần công bố chỉ số giá vật liệu hằng tháng sát với diễn biến thị trường, làm cơ sở để nhà thầu điều chỉnh hợp đồng. Đồng thời, các dự án đầu tư công cần áp dụng cơ chế hợp đồng có hệ số điều chỉnh và bù giá rõ ràng, minh bạch, dựa trên biến động thực tế của giá vật liệu xây dựng.
Áp lực thiếu vật liệu xây dựng trong giai đoạn tới rõ ràng là rất lớn. Những giải pháp được các đại biểu Quốc hội đề xuất vì thế cần sớm được nghiên cứu, chuyển hóa thành các chính sách và công cụ điều hành cụ thể. Bởi nếu “nút thắt” vật liệu không được tháo gỡ, tiến độ giải ngân đầu tư công sẽ khó bảo đảm, kéo theo đó, mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ đối mặt với những thách thức đáng kể.
An Nhiên
4 giờ trước
1 ngày trước
5 ngày trước
10 ngày trước
11 ngày trước
11 ngày trước
14 ngày trước
14 ngày trước
14 ngày trước
15 ngày trước
17 ngày trước
20 ngày trước
20 ngày trước
18 phút trước
1 giờ trước
Vừa xong
4 phút trước
5 phút trước
6 phút trước
6 phút trước
9 phút trước