Ám gợi tình thơ - 'Đôi bờ' của Quang Dũng

Sau này đi dạy, soạn giảng bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng trong sách Ngữ văn lớp 12 phổ thông, tìm hiểu về sự nghiệp sáng tác của nhà thơ, mới hay hai câu thơ ấy trong bài Đôi bờ cùng tác giả, viết từ năm 1948, khi tôi chưa có mặt trên cõi đời này.
Quang Dũng là nhà thơ được người đọc mến mộ tôn vinh là thi sĩ tạc tượng đài chiến binh bằng thơ, tạo hình người trai thời chiến lên đường cứu nước. Ông để lại cho đời những thi phẩm khó quên: Tây Tiến, Đôi mắt người Sơn Tây, Bố hạ, Đôi bờ… viết vào những năm 1948 - 1949, khi rời đơn vị Tây Tiến, không còn giữ chức đại đội trưởng, về dự Đại hội toàn quân tại Liên Khu III ở Phù Lưu Chanh. Trong quần thể hình tượng thơ đó, hiện lên người lính Tây Tiến “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, sẵn sàng chấp nhận “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”, dẫu cuộc sống thế nào, nỗi nhớ vẫn luôn là vẻ đẹp tâm hồn thuần túy, hoàn cảnh không thể cấm đoán, con tim thanh niên tươi trẻ nơi núi rừng hoang dã kia vẫn rạo rực tình yêu đôi lứa theo quy luật tâm lý tự nhiên, có những “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” (Tây Tiến), và cảm hứng thơ ấy càng bay bổng trong Đôi bờ với tâm trạng “thương nhớ, nhớ thương”, hằng trong tâm cảm. Đó là nét đẹp sáng trong ở buổi ban đầu của những chàng trai đô thành xếp bút nghiên lên đường làm lính, để lại phía sau với bao kỷ niệm vui buồn, có cả bóng hình người đẹp ở quê. Nhưng đó là nỗi “thương nhớ ơ hờ”, nghe cứ chênh vênh, xa cách, không có điểm tựa rõ ràng, “thương nhớ ai?”. Cách hỏi tu từ, bởi đã xác định được không gian và đối tượng: “Sông xa từng lớp lớp mưa dài/ Mắt kia em có sầu cô quạnh/ Khi chớm thu về một sớm mai?”, là mối quan tâm lo lắng về hoàn cảnh của em mỗi độ chuyển mùa. “Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự”, cái lạnh chưa thật tràn về, mới “chừng sắp ngự”. Ngôn từ ở đây đúc lại, chữ “ngự” báo động trước về quy luật tuần hoàn của tự nhiên, hiện tượng giá rét sắp về, một sự buốt lạnh có quyền uy ghê gớm ngự trị khắp không gian chẳng ai cản nổi. Chừng ấy khi ở “Kinh thành em có nhớ bên tê?”. “Bên tê” là khoảng cách đôi bờ, một nửa kinh thành một nửa rừng hoang, không gian chiến trường quạnh quẽ, “Giăng giăng mưa bụi quanh phòng tuyến/ Hiu hắt chiều sông lạnh bến tề”. Một bức tranh chiều quê ảm đạm buồn, một “bến tề” sông lạnh, ranh giới chia cắt giữa vùng tự do và vùng địch hậu, nơi ấy có em, càng làm cho cái lạnh thêm len thấm vào nỗi đợi chờ, nhưng không làm chai sạn tâm hồn tinh tế nhạy cảm của người lính.
Hồn thơ luôn khơi gợi về ký ức “lối xưa”, vật thực trở nên thi vị hóa, từ dòng chảy đến sắc màu, tất cả đều mong manh, hư ảo, thoáng chút đượm buồn về những ngày qua, hoài niệm luôn hiện hữu kéo dài theo không gian xa cách, “Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa/ Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ”. Lạnh đôi bờ không chỉ không gian vật lý, mà cả lòng người ở hai phía cách nhau. Nói đôi bờ gợi nhớ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm: “Đứng bên này sông sao nhớ tiếc/ Sao xót xa như rụng bàn tay”. Nhưng niềm cảm xúc Quang Dũng không dữ dội đau xé thịt da “như rụng bàn tay” của Hoàng Cầm, mà nỗi buồn nhớ thăng hoa, cảm hứng thơ lãng mạn mộng mơ của Quang Dũng bay lượn vào thế giới tượng trưng ảo diệu: “Thoáng hiện em về trong đáy cốc/ Nói cười như chuyện một đêm mơ”, khác nào khối tương tư huyền thoại Mỵ Nương, nghe tiếng hát đêm đêm thổn thức vọng về, rồi để nước mắt làm tan chảy bóng hình Trương Chi nơi đáy cốc. Nhưng ở Đôi bờ khác, không tiếng hát mà tiếng nói cười, thao tác gần gũi thân quen, cứ luôn thoáng hiện vọng về cái đêm xa xưa ấy.
Những kỷ niệm đẹp chỉ còn trong mơ, hiện thời “Xa quá rồi em người mỗi ngả/ Đôi bờ đất nước nhớ thương nhau”. Sự đối lập giữa đôi bờ của dòng sông, không chỉ là việc ngăn cách giữa hai người, mà tác giả khéo léo lồng ghép cái riêng (nhớ em) vào cái chung (nỗi nhớ đôi bờ đất nước). Nỗi buồn của cá nhân lan tỏa vào nỗi niềm thời đại. Cái riêng luôn hướng về phía người ở lại, về sự che chở mỏng manh trong mùa giá lạnh bên kia sông: “Em đi áo mỏng buông hờn tủi/ Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?”, một hành trình đơn độc cách xa, dẫu có nước mắt, nhưng đó là “dòng lệ thơ ngây”, gợi nét đẹp thuần khiết, sáng trong của người con gái, chấp nhận thực tại lịch sử, buông bỏ hờn tủi, buồn đau.
Đôi bờ của Quang Dũng là thơ thời chiến, nhưng không có tiếng súng, chỉ có tiếng lòng. Ngôn ngữ Đôi bờ không đao to búa lớn, sử dụng hình ảnh bình dị đời thường, có giọng điệu tâm tình diễn đạt rất riêng, ấn tượng, bộc lộ được cái chung rất lớn về sự hòa quyện giữa tình yêu lứa đôi với giang sơn, gắn kết riêng chung, nhân văn sâu lắng lòng người những cảm xúc khó phai.
Võ Nguyên .
32 phút trước
1 giờ trước
10 giờ trước
11 giờ trước
3 phút trước
10 phút trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
8 giờ trước
8 giờ trước