9 doanh nghiệp bị loại khỏi danh sách FTSE Russell: Kết quả kinh doanh quý 1 ra sao?
Kết quả kinh doanh quý I/2026 của Tổng CTCP Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco, mã SAB) ghi nhận doanh thu thuần đạt hơn 6.457 tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước. Biên lợi nhuận gộp cải thiện rõ rệt lên 38,1%, so với mức 31,7% của quý I/2025, qua đó đưa lợi nhuận gộp lên 2.405 tỷ đồng, tăng 28,5% YoY.
Trong kỳ, chi phí tài chính giảm mạnh xuống còn 14,4 tỷ đồng (so với 91,1 tỷ đồng cùng kỳ), nhờ không phát sinh các khoản chi phí bất thường. Ngược lại, chi phí bán hàng tăng 12,7% lên 900 tỷ đồng, chủ yếu do chi phí quảng cáo, vận chuyển và các hoạt động hỗ trợ bán hàng gia tăng.
Kết quả, lợi nhuận hoạt động quý I đạt 1.548 tỷ đồng, tăng 50,2% so với cùng kỳ; lợi nhuận sau thuế sau lợi ích cổ đông thiểu số đạt 1.245 tỷ đồng, tăng 55,7% YoY.
Theo SAB, kết quả tăng trưởng mạnh trong quý I/2026 đến từ nhiều yếu tố thuận lợi, bao gồm mức nền thấp của cùng kỳ và sự lệch pha thời điểm Tết Nguyên đán, giúp thúc đẩy tiêu thụ.
Tại thời điểm cuối quý I, tổng tài sản của Sabeco đạt 30.874 tỷ đồng, giảm 5% so với đầu năm. Đến cuối quý I, doanh nghiệp duy trì lượng hàng tồn kho tương đương cùng kỳ, ở mức hơn 2.000 tỷ đồng, tài sản cố định giảm nhẹ xuống 4.954 tỷ đồng. Về nguồn vốn, tại ngày 31/3/2026, vốn chủ sở hữu của SAB đạt 24.199 tỷ đồng.
Trên thị trường chứng khoán, từ đầu năm 2026 đến nay, cổ phiếu SAB đã giảm hơn 16% so với đỉnh ngắn hạn thiết lập vào tháng 1, trước khi lùi về vùng đáy quanh 42.000–43.000 đồng/cổ phiếu. Tuy nhiên, từ nửa cuối tháng 4 đến đầu tháng 5, mã này ghi nhận tín hiệu hồi phục rõ nét với sự cải thiện đồng thời về giá và thanh khoản. Kết phiên 6/5, SAB đóng cửa tại 47.800 đồng/cổ phiếu.

Doanh thu và lợi nhuận của Sabeco các năm qua. (Đồ họa: Thơ Hoàng)
Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí – CTCP (PVFCCo – Phú Mỹ, HOSE: DPM) ghi nhận kết quả kinh doanh quý I/2026 tăng trưởng mạnh. Doanh thu thuần đạt hơn 5.623 tỷ đồng, tăng khoảng 36% so với cùng kỳ, trong khi lợi nhuận sau thuế đạt hơn 410 tỷ đồng, tăng gần 95% so với mức 210,9 tỷ đồng đạt được trong quý 1/2025.
Đà tăng trưởng chủ yếu đến từ sản lượng tiêu thụ cải thiện và giá bán phân bón tăng, giúp lợi nhuận gộp đạt hơn 941 tỷ đồng, biên lợi nhuận gộp nâng lên 16,7% (so với khoảng 15,8% cùng kỳ).
Về chi phí, áp lực tài chính gia tăng khi chi phí lãi vay tăng mạnh, kéo chi phí tài chính lên gần 45 tỷ đồng. Đồng thời, chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp cũng tăng lần lượt 12% và 15%. Tuy nhiên, doanh thu tài chính tăng đột biến, gấp 2,5 lần cùng kỳ, phần nào bù đắp chi phí.
Tình hình tài chính của doanh nghiệp tiếp tục duy trì lành mạnh với tổng tài sản hơn 18.156 tỷ đồng, trong đó lượng tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn chiếm hơn 9.000 tỷ đồng. Nợ phải trả ở mức 6.340 tỷ đồng, chủ yếu là nợ ngắn hạn, trong khi dư nợ vay ngắn hạn đã giảm đáng kể so với đầu năm. Nhờ lợi nhuận tích lũy, vốn chủ sở hữu tăng lên 11.816 tỷ đồng.
Ghi nhận tại thời điểm 31/3/2026, vốn chủ sở hữu của Đạm Phú Mỹ đã tăng nhẹ lên mức 11.816 tỷ đồng.
Trên thị trường chứng khoán, từ đầu năm 2026, cổ phiếu DPM đã ghi nhận mức tăng trưởng gần 18% và xác lập đỉnh ngắn hạn 34.000 đồng/cp vào ngày 12/3. Tuy nhiên, sau nhịp tăng nóng, giá bước vào giai đoạn điều chỉnh và yếu dần. Tại thời điểm 6/5, cổ phiếu giao dịch quanh 26.500 đồng/cp, thấp hơn đáng kể so với đỉnh tháng 3 nhưng đã cho thấy dấu hiệu ổn định hơn so với giai đoạn giảm trước đó.

Kết quả kinh doanh và lợi nhuận của DPM qua các năm. (Đồ họa: Thơ Hoàng)
CTCP Tasco (mã HUT) ghi nhận bức tranh tăng trưởng tích cực trong quý I/2026. Doanh thu hợp nhất đạt 11.030 tỷ đồng, tăng khoảng 58% so với cùng kỳ năm trước, trong khi lợi nhuận gộp đạt 1.227 tỷ đồng, tăng 65%. Lợi nhuận sau thuế đạt 53,8 tỷ đồng, ghi nhận mức tăng khoảng 45%, phản ánh hiệu quả hoạt động được cải thiện rõ rệt.
Động lực chính đến từ sự tăng trưởng đồng đều của các mảng kinh doanh chủ lực. Trong đó, phân phối và dịch vụ ô tô, bảo hiểm, dịch vụ thu phí không dừng và hệ sinh thái số của VETC đạt lần lượt 136%, 210% và 177% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, việc hợp nhất DNP từ cuối năm 2025 đã bắt đầu đóng góp doanh thu từ mảng nước sạch và sản xuất, đồng thời hỗ trợ đa dạng hóa nguồn thu.
Tại ngày 31/3/2026, tổng tài sản của HUT đạt 53.255 tỷ đồng, giảm nhẹ so với mức 55.293 tỷ đồng tại thời điểm cuối năm 2025. Trong đó, nợ phải trả ở mức 35.074 tỷ đồng, bao gồm 17.452 tỷ đồng nợ ngắn hạn và 17.622 tỷ đồng nợ dài hạn.
Vốn chủ sở hữu tại cuối quý I đạt 18.181 tỷ đồng, giảm khoảng 7,8% so với mức 19.713 tỷ đồng ghi nhận vào cuối năm trước.
Trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu HUT từ đầu năm 2026 đến nay chủ yếu vận động trong xu hướng đi ngang tích lũy, với biên độ dao động hẹp nhưng có xu hướng nhích dần lên. Mở cửa năm quanh vùng 15.500–16.000 đồng/cp. Tuy nhiên, áp lực chốt lời sau đó đã kéo giá lùi về vùng 14.500–15.000 đồng/cp vào giữa tháng 3 trước khi nhanh chóng phục hồi. Kết phiên 6/5, cổ phiếu đóng cửa tại 16.300 đồng/cp, tăng nhẹ so với phiên trước và tiếp tục duy trì nền giá ổn định.

Kết quả kinh doanh và lợi nhuận của HUT qua các năm. (Đồ họa: Thơ Hoàng)
Quý I/2026, Tổng CTCP Đầu tư Phát triển Xây dựng (DIC Corp, mã DIG) tiếp tục ghi nhận kết quả kinh doanh kém tích cực khi vẫn báo lỗ và chịu áp lực lớn từ dòng tiền. Theo đó, doanh thu thuần đạt khoảng 145 tỷ đồng, giảm nhẹ hơn 5% so với cùng kỳ, chủ yếu do không còn ghi nhận nguồn thu từ bán thành phẩm. Dù vậy, mảng bất động sản vẫn đóng vai trò chủ lực với doanh thu hơn 86 tỷ đồng, tăng 8%.
Nhờ giá vốn giảm mạnh hơn tốc độ giảm doanh thu, lợi nhuận gộp đạt gần 40 tỷ đồng, tăng khoảng 35%, kéo biên lợi nhuận gộp cải thiện lên trên 27%.
Tuy nhiên, áp lực chi phí vẫn lớn khi chi phí tài chính, bán hàng và quản lý doanh nghiệp tăng khoảng 11%, khiến doanh nghiệp tiếp tục lỗ sau thuế gần 9,9 tỷ đồng, dù đã thu hẹp đáng kể so với mức lỗ hơn 45 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.
Về tình hình tài chính, tổng tài sản tại cuối quý I đạt khoảng 17.700 tỷ đồng, giảm hơn 6% so với đầu năm. Trong đó, hàng tồn kho ở mức cao 6.804 tỷ đồng, chiếm hơn 38% tổng tài sản, còn các khoản phải thu ngắn hạn xấp xỉ 5.800 tỷ đồng.
Trong quý đầu năm, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh âm 437 tỷ đồng, dòng tiền tài chính âm gần 750 tỷ đồng, kéo dòng tiền thuần xuống âm tới 1.140 tỷ đồng, cao gấp khoảng 3 lần cùng kỳ.
Trên thị trường chứng khoán, từ đầu năm 2026 đến ngày 6/5, cổ phiếu DIG trải qua diễn biến biến động khá rõ nét theo xu hướng giảm rồi hồi phục và tích lũy. Đầu năm ở vùng 17.000 đồng/cp, sau đó nhanh chóng chịu áp lực điều chỉnh và lùi về vùng đáy khoảng 12.500 đồng/cp vào giữa tháng 3. Kết phiên ngày 6/5, cổ phiếu đóng cửa ở mức khoảng 14.750 đồng/cp, phản ánh xu hướng ổn định hơn sau giai đoạn giảm sâu trước đó.

Kết quả kinh doanh và lợi nhuận của DIG qua các năm. (Đồ họa: Thơ Hoàng)
Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã EIB) ghi nhận kết quả lợi nhuận quý I/2026 duy trì ở mức tích cực trong bối cảnh theo đuổi chiến lược thận trọng.
Trong quý, Eximbank ghi nhận thu nhập lãi thuần đạt gần 1.380 tỷ đồng, tăng nhẹ 1.9% so với cùng kỳ. Một số mảng ghi nhận cải thiện như hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư chuyển từ lỗ sang lãi và thu nhập khác tăng hơn 10%.
Ở chiều ngược lại, nguồn thu ngoài lãi sụt giảm đáng kể khi lãi từ dịch vụ giảm sâu còn 33,6 tỷ đồng, hoạt động kinh doanh ngoại hối chuyển lỗ 10,4 tỷ đồng, trong khi mảng chứng khoán kinh doanh không ghi nhận doanh thu.
Dù chi phí hoạt động chỉ tăng nhẹ khoảng 3% lên 871 tỷ đồng, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh vẫn giảm 31%, còn 657 tỷ đồng.
Điểm đáng chú ý là ngân hàng chủ động tăng mạnh trích lập dự phòng rủi ro tín dụng lên 319 tỷ đồng, gấp 2,5 lần cùng kỳ, nhằm củng cố bộ đệm tài chính. Sau khi trừ chi phí dự phòng, lợi nhuận trước thuế đạt khoảng 338 tỷ đồng, hoàn thành hơn 22% kế hoạch năm.
Tính đến cuối quý I/2026, tổng tài sản của Eximbank ở mức 269.958 tỷ đồng, gần như đi ngang so với đầu năm.
Dư nợ cho vay khách hàng và tiền gửi đều tăng khoảng 3%, lần lượt đạt 189.347 tỷ đồng và 182.148 tỷ đồng. Tuy nhiên, chất lượng tài sản chịu áp lực khi tổng nợ xấu tăng 10% lên 5.807 tỷ đồng, kéo tỷ lệ nợ xấu từ 2,86% lên khoảng 3,07%.
Trên thị trường chứng khoán, từ đầu năm 2026 đến nay cổ phiếu EIB biến động giằng co trong biên độ rộng. Sau khi tăng từ vùng 22.000 lên 23.000–24.000 đồng/cp đầu tháng 1, mã điều chỉnh về đáy ngắn hạn quanh 20.500–21.000 đồng/cp trong tháng 2. EIB sau đó phục hồi lên gần 24.500 đồng/cp. Tại ngày 6/5, cổ phiếu EIB đóng của tại mức giá 21.900 đồng/cp.

Kết quả kinh doanh và lợi nhuận của EIB qua các năm. (Đồ họa: Thơ Hoàng)
Tập đoàn Đất Xanh (mã DXG) ghi nhận kết quả kinh doanh khởi sắc trong quý I/2026 khi lợi nhuận tăng mạnh nhờ sự phục hồi của mảng môi giới và bán hàng bất động sản.
Theo đó, doanh thu quý đầu năm của Đất Xanh đạt hơn 1.467 tỷ đồng, tăng 59% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu từ bán căn hộ và đất nền đóng góp khoảng 860 tỷ đồng, tăng 29%, còn mảng môi giới bất động sản tăng trưởng đột biến, mang về gần 604 tỷ đồng, gấp hơn 3 lần cùng kỳ.
Sau khi khấu trừ hàng bán bị trả lại gần 115 tỷ đồng, doanh thu thuần đạt khoảng 1.353 tỷ đồng, tăng 46%. Lợi nhuận sau thuế đạt hơn 214 tỷ đồng, tăng 173% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này giúp DXG hoàn thành khoảng 80% mục tiêu lợi nhuận cả năm chỉ sau một quý kinh doanh.
Tại thời điểm cuối quý I, tổng tài sản của DXG đạt gần 38.500 tỷ đồng. Hàng tồn kho tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn với hơn 15.800 tỷ đồng. Đáng chú ý, khoản cho vay các bên khác tăng mạnh lên hơn 3.300 tỷ đồng, gấp gần 3 lần đầu năm nhưng chưa có thuyết minh cụ thể.
Ở phía nguồn vốn, nợ phải trả ở mức gần 17.400 tỷ đồng, trong đó khoản người mua trả tiền trước đạt hơn 6.900 tỷ đồng, tăng 12%. Dư nợ vay tài chính duy trì quanh 4.800 tỷ đồng.
Trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu DXG của Tập đoàn Đất Xanh chốt phiên 6/5 tại mức 16.000 đồng/cp, tương ứng vốn hóa thị trường khoảng 17.575 tỷ đồng. Thanh khoản bình quân 52 tuần đạt gần 19,7 triệu cổ phiếu/phiên, cho thấy mã này vẫn duy trì sức hút đáng kể đối với dòng tiền trên thị trường.

Kết quả kinh doanh và lợi nhuận của DXG qua các năm. (Đồ họa: Thơ Hoàng)
CTCP Phát triển Bất động sản Phát Đạt (mã PDR) ghi nhận lợi nhuận tăng mạnh trong quý I/2026 nhờ khoản thu tài chính đột biến từ thoái vốn, dù hoạt động kinh doanh cốt lõi tiếp tục suy giảm và áp lực chi phí gia tăng.
Doanh thu thuần quý đầu năm của PDR chỉ đạt hơn 104 tỷ đồng, giảm 76% so với cùng kỳ, chủ yếu đến từ mảng cung cấp dịch vụ. Trong khi đó, tổng chi phí tài chính, bán hàng và quản lý doanh nghiệp tăng vọt lên 541 tỷ đồng, gấp gần 5 lần cùng kỳ. Riêng chi phí tài chính lên tới gần 432 tỷ đồng, tăng 545%.
Điểm sáng lớn nhất trong kỳ đến từ hoạt động tài chính của Phát Đạt khi doanh thu đạt hơn 907 tỷ đồng, gấp 477 lần cùng kỳ, chủ yếu nhờ chuyển nhượng toàn bộ cổ phần tại Công ty CP Bất động sản Đầu tư và Phát triển Cao ốc Thiên Long. Sau giao dịch, công ty con của PDR đã thu về hơn 1.900 tỷ đồng trong đợt thanh toán đầu tiên.
Nhờ khoản thu này, lợi nhuận trước thuế quý I của Phát Đạt đạt hơn 390 tỷ đồng, gấp 6 lần cùng kỳ. Tuy nhiên, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp lên tới hơn 252 tỷ đồng, tương đương gần 65% lợi nhuận trước thuế, khiến lãi ròng còn gần 138 tỷ đồng, tăng 2,7 lần so với cùng kỳ năm trước.
Tính đến cuối quý I, tổng tài sản của PDR đạt hơn 26.600 tỷ đồng, tăng nhẹ so với đầu năm. Hàng tồn kho giảm 10% còn khoảng 15.100 tỷ đồng, tập trung tại các dự án lớn như The EverRich 2, Tropicana Bến Thành Long Hải và Thuận An 1, Thuận An 2.
Đáng chú ý, doanh nghiệp ghi nhận hơn 2.044 tỷ đồng phải thu ngắn hạn từ khách hàng, trong đó có khoản phải thu hơn 368 tỷ đồng từ Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản Cao tầng Thuận An 1 – đơn vị nhận chuyển nhượng cổ phần từ PDR.
Trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu PDR chốt phiên 6/5 tại mức 16.500 đồng/cp, tương ứng vốn hóa thị trường khoảng 16.463 tỷ đồng. Thanh khoản bình quân 52 tuần đạt gần 15 triệu cổ phiếu/phiên.

Kết quả kinh doanh và lợi nhuận của PDR qua các năm. (Đồ họa: Thơ Hoàng)
CTCP Bán lẻ Kỹ thuật số FPT (FPT Retail, mã FRT) khởi đầu năm 2026 với kết quả kinh doanh tích cực khi doanh thu và lợi nhuận đồng loạt tăng mạnh nhờ đà mở rộng của chuỗi Long Châu và sự phục hồi sức mua ngành hàng công nghệ.
Theo báo cáo quý I/2026, FPT Retail ghi nhận doanh thu hợp nhất 15.117 tỷ đồng, tăng 30% so với cùng kỳ và hoàn thành 25% kế hoạch năm. Lợi nhuận trước thuế đạt 472 tỷ đồng, tăng 73%, tương ứng hoàn thành khoảng 30% mục tiêu cả năm. Doanh thu online đạt 2.485 tỷ đồng, tăng 16%.
Động lực tăng trưởng chính tiếp tục đến từ chuỗi nhà thuốc Long Châu với doanh thu 10.343 tỷ đồng, tăng 28% so với cùng kỳ. Trung bình mỗi nhà thuốc mang về khoảng 1,3 tỷ đồng/tháng. Trong quý đầu năm, doanh nghiệp mở thêm 100 nhà thuốc và 5 trung tâm tiêm chủng, nâng tổng số lên 2.517 nhà thuốc và 228 trung tâm tiêm chủng trên toàn quốc.
Ở mảng bán lẻ công nghệ, FPT Shop ghi nhận doanh thu 4.815 tỷ đồng trong quý I, tăng 31% so với cùng kỳ. Doanh thu bình quân mỗi cửa hàng đạt khoảng 2,6 tỷ đồng/tháng, tăng hơn 30%, nhờ nhu cầu mua sắm dịp Tết và sức hút từ các sản phẩm công nghệ mới.
Tính đến cuối tháng 3/2026, hệ thống FPT Retail gồm 2.517 nhà thuốc Long Châu, 228 trung tâm tiêm chủng và 621 cửa hàng FPT Shop trên toàn quốc.
Trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu FRT chốt phiên 5/6 ở mức 148.900 đồng/cp, đưa vốn hóa doanh nghiệp lên hơn 25.357 tỷ đồng.

Kết quả kinh doanh và lợi nhuận của FRT qua các năm. (Đồ họa: Thơ Hoàng)
CTCP Tập đoàn KIDO (KDC) ghi nhận kết quả kinh doanh khởi sắc trong quý I/2026 khi doanh thu và lợi nhuận đồng loạt tăng trưởng so với cùng kỳ, dù áp lực chi phí tài chính và chi phí vận hành vẫn hiện hữu.
Theo báo cáo tài chính quý I/2026, doanh thu thuần của KIDO đạt 2.482 tỷ đồng, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước. Giá vốn hàng bán tăng 12,7%, trong khi các loại chi phí tiếp tục leo thang. Cụ thể, chi phí tài chính tăng gần 9%, riêng chi phí lãi vay tăng 18,8%. Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp lần lượt tăng 12,6% và 5,4%.
Dù vậy, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 13,1 tỷ đồng, tăng hơn 117% so với cùng kỳ, cho thấy hiệu quả hoạt động được cải thiện trong bối cảnh thị trường tiêu dùng còn nhiều thách thức.
Tính đến ngày 31/3/2026, tổng tài sản của KIDO đạt 13.321 tỷ đồng. Nợ phải trả ở mức 5.937 tỷ đồng, trong khi vốn chủ sở hữu giảm nhẹ còn 7.384 tỷ đồng, so với 7.738 tỷ đồng đầu năm.
Trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu KDC đóng cửa phiên 5/6 ở mức 48.150 đồng/cp, tương ứng vốn hóa thị trường khoảng 13.562 tỷ đồng. Thanh khoản bình quân 52 tuần đạt gần 365 nghìn cổ phiếu/phiên.

Kết quả kinh doanh và lợi nhuận của KDC qua các năm. (Đồ họa: Thơ Hoàng)
Ngày 6/5, FTSE Russell đã thu hẹp danh sách cổ phiếu Việt Nam đủ điều kiện xem xét khi nâng hạng thị trường, từ 32 mã xuống còn 23 mã.
Theo đó, 9 cổ phiếu bị loại khỏi danh sách tiềm năng gồm SAB của Sabeco, DPM của PVFCCo, HUT của Tasco, DIG của DIC Corp, EIB của Eximbank, DXG của Dat Xanh Group, PDR của Phat Dat Real Estate, FRT của FPT Retail và KDC của KIDO Group.
FTSE Russell cho biết các mã trên không còn đáp ứng đầy đủ các tiêu chí sàng lọc về thanh khoản, tỷ lệ free-float, giới hạn sở hữu nước ngoài (room ngoại) và khả năng giao dịch theo bộ tiêu chuẩn của tổ chức này.
Việc bị loại khỏi danh sách dự bị đồng nghĩa khả năng được bổ sung vào bộ chỉ số trong kỳ nâng hạng tới gần như không còn.
Theo lộ trình, danh sách cuối cùng sẽ được FTSE Russell công bố trước kỳ rà soát tháng 9/2026 của bộ chỉ số FTSE Global Equity Index Series (FTSE GEIS). Kết quả review bán niên dự kiến được công bố từ ngày 21/8/2026.

Thơ Hoàng
1 giờ trước
1 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
1 ngày trước
2 ngày trước
1 giờ trước
1 giờ trước
54 phút trước
4 phút trước
8 phút trước
27 phút trước
36 phút trước
44 phút trước