300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn: Biểu tượng trường tồn của trí tuệ và văn hóa Việt Nam
300 năm đã trôi qua, nhưng trí tuệ, nhân cách và tinh thần học tập không ngừng của Lê Quý Đôn vẫn luôn là tấm gương sáng cho các thế hệ noi theo.
* Thần đồng trấn Sơn Nam
Danh nhân Lê Quý Đôn sinh ngày 2/8/1726, mất ngày 11/6/1784, tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay là xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên). Ông xuất thân trong gia đình khoa bảng, cha là Lê Trọng Thứ, đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Giáp Thìn (1724), làm quan đến Thượng thư Bộ Hình.
Theo nhiều tư liệu lịch sử ghi lại, với tư chất thông minh khác người, 5 tuổi Lê Quý Đôn có thể đọc thông viết thạo, bắt đầu đọc Kinh thi. Nhận thấy khả năng nổi trội của con mình, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Thứ đã dày công đi tìm các cuốn sách hay về cho con đọc và cùng con đọc và học hằng ngày. Khả năng đọc đâu, nhớ đấy của Lê Quý Đôn khiến nhiều người kinh ngạc.
Có rất nhiều giai thoại bộc lộ tư chất hơn người của Lê Quý Đôn. Trong số ấy, không thể không nhắc tới bài thơ nôm “Rắn đầu biếng học” mà ông ứng biến khi Quan Thượng đến thăm nhà. Quan Thượng thấy ông thông minh nên muốn ông ứng khẩu một bài thơ. Khi Lê Quý Ðôn xin đề bài thì Quan Thượng nói rằng: “Phụ thân cậu đã bảo cậu rắn đầu, rắn cổ, vậy cậu cứ lấy đó làm đề bài”. Sau một thoáng suy ngẫm, Lê Quý Ðôn đã đọc bài thơ với ngụ ý tự trách mình nhưng đã khiến cho Quan Thượng phải thán phục và khen: “Quả là thần đồng”. Bài thơ ấy đến nay vẫn lưu danh trong sử sách:
Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà,
Rắn đầu biếng học lẽ không tha.
Thẹn đèn, hổ lửa đau lòng mẹ,
Nay thét mai gầm rát cổ cha.
Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo,
Lằn lưng cam chịu vết roi tra
Từ nay Trâu Lỗ xin siêng học,
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.

Khu lưu niệm danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên. Ảnh: Đinh Văn Nhiều - TTXVN
Song nếu chỉ nhìn Lê Quý Đôn như một thần đồng bẩm sinh thì có lẽ chưa đủ. Các nhà nghiên cứu về cuộc đời ông cho rằng gia phong nền nếp, sự giáo dục nghiêm khắc của cha ông mới chính là nền tảng quan trọng tôi rèn nên một trí tuệ bác học. Mỗi khi học xong một thiên sách, Lê Quý Đôn đều phải chép lại, bình giải lại rồi mới được chuyển sang bài mới. Việc học vì thế không chỉ là ghi nhớ mà còn là quá trình suy ngẫm và tự hoàn thiện. Năm 10 tuổi, mỗi ngày thuộc được 80 đến 90 chương sử và học Kinh Dịch về phần Cương hình và Đồ thuyết; năm 14 tuổi ông đã đọc hết Ngũ Kinh, Tứ Thư, Sử truyện và Chư tử. Đặc biệt, ông có thể làm 10 bài phú mà không phải nghĩ và không cần viết nháp. Lúc này, Lê Quý Đôn với trí nhớ tuyệt vời và trí tuệ hơn người đã nổi tiếng cả trấn Sơn Nam.
* Nhà bác học lỗi lạc, “túi khôn của thời đại”
Năm 14 tuổi, Lê Quý Ðôn đã theo cha lên kinh đô Thăng Long theo học thầy là tiến sĩ Lê Hữu Kiều. Nhờ trí tuệ uyên thâm mà 17 tuổi Lê Quý Đôn đi thi Hương đỗ Giải nguyên. 27 tuổi ông đỗ Hội nguyên, rồi đỗ Đình Nguyên Bảng nhãn (do khoa thi này không lấy Trạng nguyên).
Sau khi đỗ Bảng nhãn, từ năm 1752 Lê Quý Đôn bắt đầu bước vào sự nghiệp quan trường và giữ nhiều chức vụ quan trọng của Triều Lê-Trịnh, như: Hàn lâm viện thừa chỉ sung Toản tu Quốc sử quán (1754); Hàn lâm viện thị giảng (1757); năm 1760 và 1762 được cử đi sứ sang nhà Thanh; Đốc đông xứ Kinh Bắc (1764); Thị thư kiêm Tư nghiệp Quốc Tử giám (1767); Tán lí quân vụ, Thị phó đô ngự sử (1768); Công bộ hữu thị lang (1769); Bồi tụng (1773); Lại bộ tả thị lang kiêm Tổng tài Quốc sử quán (1775); Hiệp trấn tham tán quân cơ Trấn phủ Thuận Hóa (1776); Hiệp trấn Nghệ An (1783); Công bộ thượng thư (1784)...

Người dân tham quan tại tại Khu lưu niệm danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên). Ảnh: Đinh Văn Nhiều-TTXVN
Lê Quý Đôn nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, cương trực, có tài năng và kiến thức uyên bác. Đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau trong triều đình, đi công cán ở nhiều nơi, Lê Quý Đôn luôn quan tâm đến các vấn đề dân sinh, kinh tế, giáo dục, quản lý xã hội và bảo vệ chủ quyền đất nước bởi ông luôn quan niệm, sự thịnh suy của đất nước gắn liền với đời sống của nhân dân. Những khảo cứu, kiến nghị và đề xuất của ông đều hướng tới mục tiêu phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, khai thác hiệu quả tiềm năng của đất nước và tăng cường sức mạnh quốc gia. Ông luôn đề cao trách nhiệm của người làm quan, cho rằng người làm quan không chỉ bàn việc triều chính mà phải trực tiếp chăm lo đời sống của nhân dân, đem hết tâm lực thực hiện chức trách được giao. Tinh thần “dĩ công vi thượng”, lấy lợi ích của quốc gia và nhân dân làm mục tiêu phụng sự đã trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong cuộc đời và sự nghiệp của ông.
Trong thời gian đi sứ Trung Quốc (1760-762), Lê Quý Đôn gặp gỡ các sứ thần, tiếp xúc với nhiều trí thức nổi tiếng, bàn luận với họ những vấn đề Sử học, Triết học... Học vấn sâu rộng của ông đã được các học giả rất khâm phục. Ông có dịp đọc nhiều sách, trong đó có sách của phương Tây nói về địa lý thế giới, về ngôn ngữ học, thủy văn học...
Nhờ quá trình đi nhiều, thấy nhiều, nghe nhiều, biết nhiều việc đời nên kiến thức của Lê Quý Đôn lại càng phong phú. Sinh thời, nhà bác học Lê Quý Đôn được mệnh danh là “túi khôn của thời đại”. Ông được người đời ca tụng: “Thiên hạ vô tri vấn Bảng Đôn”, có nghĩa là mọi người trong thiên hạ ai không hiểu việc gì, muốn hỏi thì gặp Bảng nhãn Lê Quý Đôn. Câu nói đó đã nói lên tầm vóc của nhà bác học thiên tài của Đại Việt thời phong kiến. Ham hiểu biết, thích sưu tầm lại có một trí nhớ siêu việt… đó chính là những yếu tố giúp ông trở thành danh nhân đất Việt.
Với tài trí thông minh và kiến thức uyên bác, Lê Quý Đôn đã để lại cho hậu thế khoảng 40 bộ sách bao quát hầu hết các tri thức đương thời, như: lịch sử, địa lý, thi ca, nhiều tác phẩm khảo cứu, diễn nghĩa, chú giải, bàn giảng các kinh điển, cổ thư và nhiều tác phẩm thơ Nôm. Các tác phẩm nổi tiếng của ông được coi như bách khoa toàn thư ở nhiều lĩnh vực. Có thể kể tới một số công trình tiêu biểu: Về triết học là "Vân đài loại ngữ", "Quần thư khảo biện", "Thánh mô hiền phạm lục"; Về văn học có bộ sưu tầm “Toàn Việt thi lục”; tập thơ "Quế đường thi tập” rất nổi tiếng; Về sử học có “Đại Việt thông sử”, “Phủ biên tạp lục”, “Kiến văn tạp lục”, “Bắc sử thông lục”.

Giờ học về Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn. Ảnh: Thu Hoài - TTXVN
Về triết học, Lê Quý Đôn có những đóng góp quan trọng trong việc lý giải thế giới và quy luật vận động của tự nhiên, xã hội. Từ quan niệm Lý - Khí, Ông khẳng định sự vận động không ngừng là điều kiện tồn tại và phát triển của vạn vật. Những luận giải trong “Vân đài loại ngữ” thể hiện tư duy quan sát thực tiễn, phân tích và nhận thức sâu sắc về sự vận động của tự nhiên, xã hội, đánh dấu bước phát triển mới của tư tưởng triết học Việt Nam đương thời. Điểm nổi bật của “Vân Đài loại ngữ” không chỉ nằm ở khối lượng tư liệu phong phú mà còn ở phương pháp biên soạn khoa học, lý luận chặt chẽ, giúp độc giả hiểu được cách người xưa nhìn nhận và vận dụng tri thức. Lê Quý Đôn cũng thể hiện tư duy phản biện và khả năng tổng hợp kiến thức từ nhiều nguồn cổ điển từ kinh điển Nho giáo cho đến sử ký, thiên văn, nông học, y học dân gian. Đây là tài liệu tham khảo quan trọng đối với các nhà nghiên cứu Hán Nôm, văn hóa học và lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Còn lĩnh vực sử học, phải nhắc đến bộ sách “Đại Việt thông sử”, còn gọi “Lê triều thông sử”, với 30 quyển ghi chép về hơn 100 năm của triều nhà Lê, trong đó chứa đựng nhiều tài liệu mới mà các bộ sử khác không có. Ngoài giá trị to lớn về kho tư liệu, “Đại Việt thông sử” còn cung cấp cho các nhà nghiên cứu về khoa học lịch sử phương pháp nghiên cứu sử học khoa học đặc thù của Lê Quý Ðôn. Khi viết “Ðại Việt thông sử”, ông đã sớm tổng kết: “Phép làm sử là phải nhặt đủ, không bỏ sót để cho người ta sau khi mở sách ra xem rõ được manh mối, biết được đầu đuôi, tuy không tận mắt thấy tai nghe mà rõ ràng như chính mình được thấy”.
Về văn học, tiêu biểu là “Toàn Việt thi lục”, gồm 6 quyển là công trình biên soạn lớn nhất của Lê Quý Ðôn, tuyển chọn 897 bài thơ của 73 tác giả từ thời Lý đến đời Lê Tương Dực (1509-1516). Ông cũng để lại nhiều công trình tiêu biểu, như “Hoàng Việt văn hải”, “Quế Đường thi văn tập”. Ngoài ra, ông còn quan tâm đến ngôn ngữ học, dân tộc học, nhân học, địa lý học...
Có thể nói, công tích và sự nghiệp khoa học của nhà bác học Lê Quý Đôn là những di sản vô giá truyền lại cho các thế hệ tiếp nối, được nhà nước và nhân dân suy tôn qua nhiều hình thức lưu danh và tưởng niệm. Cả nước hiện có tới 40 ngôi trường mang tên danh nhân Lê Quý Đôn. Tên tuổi của ông còn được đặt cho nhiều tuyến đường, giải thưởng khoa học, hội thảo và chương trình học, minh chứng cho sức lan tỏa bền bỉ của một danh nhân văn hóa với giá trị tri thức trường tồn.
* Tấm gương sáng ngời cho hậu thế
Di sản của Lê Quý Đôn không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi quốc gia mà còn vươn xa tầm quốc tế. Các tác phẩm quý giá của ông phần lớn viết bằng chữ Hán đã trở thành tài liệu tham khảo trực tiếp cho nhiều nghiên cứu trong khu vực Đông Á. Những công trình này, cùng với các bài báo khoa học, đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác, góp phần lan tỏa giá trị văn hóa và trước tác của Lê Quý Đôn ra toàn cầu. Ngày 31/10/2025, việc UNESCO thông qua Nghị quyết vinh danh và cùng tham gia kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với cộng đồng học thuật quốc tế, khi một học giả thời phong kiến Việt Nam được ghi nhận ở tầm vóc danh nhân văn hóa toàn cầu.
Sự kiện này cũng khẳng định di sản mà Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn để lại không chỉ có giá trị trong phạm vi quốc gia mà còn mang ý nghĩa đối với sự phát triển chung của tri thức nhân loại. Nhiều học giả quốc tế, đặc biệt là các nhà nghiên cứu Pháp, đánh giá cao bác học Lê Quý Đôn như một nhà thư tịch học, nhà khảo cứu lịch sử-địa chí xuất sắc. Các công trình của ông trở thành nguồn tư liệu quan trọng giúp thế giới hiểu rõ hơn về lịch sử, văn hóa và xã hội Việt Nam.
PGS.TS Nina V.Grigoreva - Đại học HSE, St. Petersburg (Liên bang Nga) khẳng định: “Ở thế kỷ 18, lịch sử thế giới được gọi là thế kỷ khai sáng. Với những cống hiến và qua những trước tác của nhà bác học Lê Quý Đôn cho thấy, ông là nhà khai sáng hàng đầu Việt Nam. Ông là người đương thời, cùng với những nhân vật văn hóa và khoa học vĩ đại khác như: Montesquieu (Pháp), Voltaire (Pháp), Hume (Anh), Lomonosov (Nga), Rousseau (Thụy Sĩ - Pháp), Diderot (Pháp)”.
GS.TS Shimizu Masaaki - Đại học Osaka (Nhật Bản) đã so sánh nhà bác học Lê Quý Đôn với nhà ngôn ngữ nổi tiếng Nhật Bản - nhà Quốc học Motoori Norinaga (1730-1801): “Lê Quý Đôn là người Việt Nam đầu tiên coi ngôn ngữ, văn tự là đối tượng để suy nghĩ, nhận thức. Ông là người đề xuất phương pháp nghiên cứu tiếng Việt đầu tiên trong lịch sử khoa học Việt Nam”.
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Kim, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, thành viên Ủy ban UNESCO thế giới nhận định: các tác phẩm của Lê Quý Đôn không chỉ là những công trình học thuật xuất sắc của Việt Nam mà còn phản ánh tầm nhìn khai sáng, bao quát toàn bộ những tri thức cao nhất của thời đại.

Lãnh đạo tỉnh Hưng Yên trồng cây tại Khu lưu niệm Nhà bác học Lê Quý Đôn, xã Lê Quý Đôn. Ảnh: Đinh Văn Nhiều-TTXVN
Cuộc đời, sự nghiệp và di sản của Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn là minh chứng sinh động cho tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng học tập, sáng tạo và cống hiến không ngừng vì sự hưng thịnh của quốc gia, dân tộc. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng cùng nhiều nghị quyết quan trọng, như: Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới… đã xác định rõ yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trên nền tảng phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam, xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, tôn vinh và phát huy giá trị di sản của Danh nhân Lê Quý Đôn có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn; là cơ sở quan trọng để tiếp tục kế thừa, phát huy trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.
3 thế kỷ trôi qua, tên tuổi Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn vẫn tỏa sáng như biểu tượng của trí tuệ, tinh thần hiếu học và khát vọng cống hiến cho dân tộc và nhân loại. Những di sản ông để lại không chỉ thuộc về quá khứ mà vẫn tiếp tục lan tỏa, trở thành nguồn cảm hứng cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Diệp Ninh (tổng hợp)/ TTXVN
14 ngày trước
16 ngày trước
1 giờ trước
27 phút trước
4 phút trước
15 phút trước
22 phút trước
24 phút trước
25 phút trước
36 phút trước
39 phút trước
39 phút trước
40 phút trước
45 phút trước
50 phút trước
53 phút trước