Y học cổ truyền Việt Nam: Từ di sản đến nguồn lực quốc gia
Y học cổ truyền đang đứng trước cơ hội trở thành một nguồn lực khoa học và y tế quan trọng. Nhưng để làm được điều đó, cần bắt đầu từ việc nhìn nhận đúng giá trị của nền y học này.


Nguyễn Thị Bay
PGS.TS.BS
Chuyên gia đầu ngành về Y học cổ truyền và kết hợp Đông - Tây y tại Việt Nam. Bà là chủ Chủ tịch Hội Đông Tây y kết hợp TP.HCM; Chủ tịch Hội đồng Khoa học Đào tạo Khoa Y học cổ truyền, Đại học Y Dược TP.HCM; Cố vấn Trường Đại học Khoa học Sức khoẻ, Đại học Quốc gia TP.HCM; Cố vấn Ban Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM; Cố vấn về Y học cổ truyền Bệnh viện Ung bướu TP.HCM.
Trong bối cảnh xu hướng y học tích hợp ngày càng phát triển trên thế giới, y học cổ truyền không còn chỉ được xem là một phương thức chữa bệnh dựa trên kinh nghiệm, mà đang từng bước khẳng định vai trò trong chăm sóc sức khỏe, phòng bệnh, phục hồi chức năng và nâng cao chất lượng sống.
Với Việt Nam, việc sở hữu kho tàng tri thức lâu đời, nguồn dược liệu phong phú và hệ thống khám chữa bệnh y học cổ truyền là lợi thế lớn. Tuy nhiên, để những giá trị ấy thực sự trở thành nguồn lực quốc gia, y học cổ truyền cần được tiếp cận bằng tư duy khoa học, chuẩn hóa và tích hợp dựa trên bằng chứng.
Y học cổ truyền trong xu hướng y học tích hợp
Trên thế giới hiện nay, y học cổ truyền ngày càng nhận được sự quan tâm rộng rãi, không chỉ trong chăm sóc sức khỏe ban đầu mà còn trong nhiều lĩnh vực điều trị, phục hồi chức năng, chăm sóc bệnh mạn tính, chăm sóc giảm nhẹ và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.
Nhiều phương pháp như sử dụng thuốc thảo dược, châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, dưỡng sinh, khí công, dinh dưỡng trị liệu…đã và đang được nghiên cứu, ứng dụng trong các mô hình chăm sóc sức khỏe tích hợp.
Có thể nói, y học cổ truyền không chỉ là một nền y học song hành cùng y học hiện đại trong nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh cho con người.

Bên cạnh thuốc thảo dược, châm cứu là phương pháp không dùng thuốc được ứng dụng trong quản lý bệnh mạn tính, giảm triệu chứng và hỗ trợ phục hồi chức năng. Ảnh: Trần Hiền.
Quan trọng hơn, y học cổ truyền đang từng bước tham gia vào xu hướng y học tích hợp, trong đó mục tiêu cao nhất là lấy người bệnh làm trung tâm, hướng tới duy trì sức khỏe, phòng bệnh, hỗ trợ điều trị, phục hồi chức năng và nâng cao chất lượng sống.
Từ nhiều công trình nghiên cứu về việc ứng dụng y học cổ truyền trong từng loại bệnh, nhiều tổ chức, hiệp hội khoa học và cơ sở nghiên cứu trên thế giới đã quan tâm hơn đến vai trò của thảo dược, châm cứu, dưỡng sinh và các phương pháp không dùng thuốc khác trong quản lý bệnh mạn tính, kiểm soát triệu chứng, giảm đau, phục hồi chức năng và hỗ trợ chăm sóc người bệnh, trong đó có cả người bệnh ung thư ở các giai đoạn cần điều trị hỗ trợ và chăm sóc giảm nhẹ.
Tuy nhiên, y học cổ truyền không nên được hiểu là thay thế hoàn toàn các phương pháp điều trị đặc hiệu của y học hiện đại, mà cần được đặt đúng vị trí trong mô hình tích hợp dựa trên bằng chứng.
Y học cổ truyền: Cơ hội và thách thức
Ở Việt Nam, y học cổ truyền đang đứng trước những cơ hội và thách thức lớn.
Một mặt, chúng ta có kho tàng tri thức lâu đời, nguồn dược liệu phong phú, kinh nghiệm dân gian đa dạng và hệ thống khám chữa bệnh y học cổ truyền đã được hình thành qua nhiều thế hệ.

Y học cổ truyền Việt Nam cần tiếp tục tháo gỡ những điểm nghẽn về nghiên cứu, chuẩn hóa và khai thác dữ liệu lâm sàng để phát huy đầy đủ giá trị. Ảnh: Trần Hiền.
Mặt khác, y học cổ truyền Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế cần vượt qua như nghiên cứu còn phân tán, chuẩn hóa chưa đồng bộ, dữ liệu lâm sàng chưa được khai thác đầy đủ, sản phẩm dược liệu chưa tạo được thương hiệu mạnh và đặc biệt là chưa có sự phối hợp thật sự chặt chẽ giữa các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và đội ngũ thầy thuốc y học cổ truyền.
Hiện nay, có thể thấy một số cách nhìn khác nhau về y học cổ truyền. Một số người xem y học cổ truyền trước hết là di sản văn hóa cần được giữ gìn.
Cách nhìn này đúng, nhưng chưa đủ. Bởi nếu di sản chỉ được bảo tồn mà không tạo ra giá trị mới, không được nghiên cứu, ứng dụng và phát triển, thì dần dần di sản ấy có nguy cơ trở thành một “bảo tàng tri thức” - đẹp về quá khứ nhưng ít khả năng tạo động lực cho tương lai.
Một số người khác lại có xu hướng đồng nhất y học cổ truyền với y học hiện đại, cố gắng giải thích mọi khái niệm của y học cổ truyền bằng ngôn ngữ sinh học hiện đại.
Đây là một xu hướng phổ biến và có mặt tích cực, vì nó giúp y học cổ truyền tiếp cận gần hơn với phương pháp nghiên cứu hiện đại. Tuy nhiên, nếu cực đoan, cách làm này dễ dẫn đến suy diễn, giản lược hóa hoặc làm mất đi bản sắc học thuật riêng của y học cổ truyền.

Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển y học cổ truyền, từ tri thức bản địa, nguồn dược liệu đến mạng lưới khám chữa bệnh đã được hình thành qua nhiều thế hệ. Ảnh: Trần Hiền.
Một nhóm quan điểm khác xem y học cổ truyền là một kho tri thức lịch sử có khả năng tạo ra giả thuyết khoa học mới, sản phẩm mới, phương pháp chăm sóc sức khỏe mới và mô hình y học tích hợp mới.
Đây có thể xem là hướng tiếp cận phù hợp và cần thiết nhất cho sự phát triển y học cổ truyền trong thế kỷ XXI. Bởi y học cổ truyền không chỉ cần được bảo tồn, giải thích lại, mà quan trọng là phải được chuyển hóa thành nguồn lực tri thức, nguồn lực khoa học, nguồn lực y tế, nguồn lực kinh tế và nguồn lực văn hóa của quốc gia.
May mắn là trong thời gian gần đây, Nhà nước ta đã định hướng chiến lược phát triển y học cổ truyền thành nguồn lực quốc gia. Đây là một bước ngoặt lớn, đặc biệt của y học cổ truyền Việt Nam.

Định hướng phát triển y học cổ truyền thành nguồn lực quốc gia mở ra bước chuyển quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy và hiện đại hóa nền y học này. Ảnh: Trần Hiền.
Có thể nói, đây là thời điểm hội tụ “thiên thời - địa lợi - nhân hòa” nếu đội ngũ thầy thuốc y học cổ truyền, các nhà khoa học, nhà quản lý và các cơ sở đào tạo và điều trị cùng nhận thức đúng, đoàn kết và đồng lòng hành động.
Giá trị tri thức: Kho báu bị đánh giá thấp nhất của y học cổ truyền
Nếu mỗi thầy thuốc y học cổ truyền đều ý thức được đoàn kết sẽ tạo nên sức mạnh, giới chuyên môn có được tiếng nói chung, các nhà khoa học cùng góp sức xây dựng nền tảng nghiên cứu, nhà quản lý tạo được cơ chế phù hợp, y học cổ truyền Việt Nam không chỉ có thể trở thành nguồn lực quốc gia, mà còn mở ra cơ hội phát triển riêng về mặt khoa học, nghề nghiệp và học thuật cho chính mỗi chúng ta.
Tuy nhiên, để làm được điều đó, cần phải xác định rõ những giá trị cốt lõi nào của y học cổ truyền có thể làm nền tảng cho sự phát triển? Những giá trị nào cần được bảo tồn, chuẩn hóa, nghiên cứu và chuyển hóa thành nguồn lực thực sự?
Giá trị tri thức có thể được xem là giá trị lớn nhất nhưng cũng là giá trị thường bị đánh giá thấp nhất của y học cổ truyền.

Y học cổ truyền là hệ thống tri thức toàn diện về sức khỏe, phòng bệnh và điều trị được tích lũy qua nhiều thế hệ. Ảnh: Trần Hiền.
Y học cổ truyền không chỉ là thuốc Nam thuốc Bắc, không chỉ là châm cứu, cũng không chỉ là một số kinh nghiệm dân gian rời rạc mà là một hệ thống tri thức được tích lũy hàng nghìn năm về sức khỏe, bệnh tật, môi trường sống, chế độ ăn uống, dưỡng sinh, phòng bệnh và kinh nghiệm điều trị.
Mỗi lĩnh vực trong đó đều có hệ thống diễn giải riêng, có logic riêng và có giá trị thực tiễn riêng, dù thuật ngữ sử dụng khác với ngôn ngữ của y học hiện đại.
Trong y học cổ truyền, khỏe mạnh không đơn thuần là không có bệnh, mà là trạng thái cân bằng và hài hòa của cơ thể và tinh thần. Sự cân bằng đó được diễn giải bằng các khái niệm như âm - dương, ngũ hành, khí huyết, tạng phủ, kinh lạc, chính khí, tà khí…
Điều trị không chỉ nhằm loại bỏ triệu chứng trước mắt, mà nhằm tái lập sự cân bằng, điều chỉnh rối loạn, nâng đỡ chính khí, phục hồi khả năng tự điều hòa của cơ thể và phòng ngừa bệnh tái phát.
Tư tưởng “chính khí tồn nội, tà bất khả can” thể hiện rõ quan niệm phòng bệnh và nâng cao sức đề kháng của y học cổ truyền. Phòng bệnh không chỉ là tránh tác nhân gây bệnh từ bên ngoài, mà còn là nuôi dưỡng chính khí bên trong thông qua ăn uống, sinh hoạt, tinh thần, vận động, dưỡng sinh và điều hòa môi trường sống.

Y học cổ truyền Việt Nam đang đứng trước cơ hội phát triển khi có định hướng chiến lược và sự chung tay của đội ngũ thầy thuốc, nhà khoa học cùng các cơ sở đào tạo, điều trị. Ảnh: Trần Hiền.
Lâu nay, y học cổ truyền thường được nhìn chủ yếu như một phương pháp khám chữa bệnh. Cách nhìn đó làm hẹp đi giá trị thật sự của y học cổ truyền.
Thực chất, y học cổ truyền là cả một nền y học phục vụ cho sức khỏe con người, từ phòng bệnh, dưỡng sinh, chăm sóc sức khỏe ban đầu đến điều trị, phục hồi chức năng và nâng cao chất lượng sống.
Vì vậy, định hướng phát triển y học cổ truyền không nên được hiểu là quay trở về với “cái cũ”. Đó phải là sự kế thừa tinh hoa của cha ông trên nền tảng khoa học công nghệ hiện đại, để y học cổ truyền trở thành một bộ phận hữu cơ của nền y học quốc gia và là nguồn lực phát triển đất nước.

Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.
Đặc biệt, Việt Nam có kho tàng tri thức riêng gắn với những danh y lớn như Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông.
Tuệ Tĩnh với tư tưởng “Nam dược trị Nam nhân” đã đặt nền móng cho việc sử dụng nguồn dược liệu bản địa để chăm sóc sức khỏe người Việt. Hải Thượng Lãn Ông không chỉ để lại giá trị y học mà còn để lại tư tưởng y đức sâu sắc, xem nghề y là nghề nhân đạo, lấy con người làm trung tâm.
Đây là những giá trị mà không phải quốc gia nào cũng có. Có thể xem đó là một dạng di sản tri thức quốc gia đặc biệt quý giá.
Khi y học cổ truyền “đi trước” trong cách nhìn con người
Một giá trị cốt lõi khác của y học cổ truyền là mô hình tư duy hệ thống về sức khỏe.
Y học cổ truyền không nhìn con người như một tập hợp các cơ quan riêng lẻ, mà nhìn con người như một chỉnh thể thống nhất giữa cơ thể, tinh thần, môi trường sống, khí hậu, ăn uống, lao động, nghỉ ngơi và các mối quan hệ xã hội.
Bệnh tật không chỉ phát sinh từ một nguyên nhân đơn độc, mà thường là kết quả của sự mất cân bằng giữa nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài cơ thể.
Đây là một cách tiếp cận rất có giá trị trong bối cảnh hiện nay.
Mô hình bệnh tật của thế kỷ XXI đang chuyển mạnh sang các bệnh mạn tính, bệnh không lây nhiễm, bệnh liên quan đến lối sống, rối loạn chuyển hóa, stress, suy giảm miễn dịch, suy giảm chức năng và các vấn đề sức khỏe của người cao tuổi.
Những bệnh lý này thường không thể giải quyết triệt để chỉ bằng một thuốc, một chỉ số xét nghiệm hoặc một can thiệp đơn lẻ.

Y học cổ truyền chú trọng đánh giá toàn diện thể trạng và biểu hiện của từng người bệnh để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Ảnh: Hoài Bảo.
Trong khi đó, y học cổ truyền có ưu thế ở cách quan sát toàn diện. Cùng một bệnh danh theo y học hiện đại, người bệnh có thể có những thể trạng khác nhau, biểu hiện khác nhau, căn nguyên khác nhau và cần phương pháp điều trị khác nhau.
Người bệnh không chỉ được nhìn qua tên bệnh, mà còn qua thể trạng, khí sắc, ăn ngủ, tiêu hóa, đại tiểu tiện, mạch, lưỡi, tinh thần, môi trường sống và diễn biến bệnh theo thời gian.
Đây chính là cơ sở của cá thể hóa điều trị. Điều đáng chú ý là chiến lược y học hiện đại ngày nay cũng đang hướng mạnh đến cá thể hóa, toàn diện hóa và tích hợp đa chuyên ngành.
Vì vậy, tư duy hệ thống của y học cổ truyền không hề lạc hậu. Trái lại, nếu được chuẩn hóa và nghiên cứu đúng cách, nó có thể đóng góp quan trọng cho mô hình y học hiện đại lấy người bệnh làm trung tâm.

Chuẩn hóa và nghiên cứu bài bản có thể giúp y học cổ truyền phát huy giá trị, đóng góp vào mô hình chăm sóc sức khỏe hiện đại lấy người bệnh làm trung tâm. Ảnh: Trần Hiền.
Tuy nhiên, cũng cần thừa nhận rằng tư duy hệ thống nếu không được chuẩn hóa rất dễ bị hiểu thành chung chung, cảm tính hoặc khó kiểm chứng.
Vì vậy, nhiệm vụ hiện nay không phải là chỉ ca ngợi tư duy hệ thống, mà phải chuyển hóa nó thành mô hình có thể đào tạo, có thể nghiên cứu, có thể đánh giá kết quả và có thể tích hợp với hệ thống y tế hiện đại.
Từ kinh nghiệm cổ phương đến giả thuyết khoa học
Phương pháp điều trị của y học cổ truyền hướng đến tái lập sự cân bằng của cơ thể. Đây là một phương pháp mang tính nhân văn và có giá trị khoa học nếu được tiếp cận đúng.
Điều này tương đồng với xu hướng hiện nay của y học hiện đại là toàn diện hóa và cá thể hóa trong điều trị người bệnh.
Y học hiện đại ngày nay không chỉ quan tâm đến việc tiêu diệt tác nhân gây bệnh hay điều chỉnh một chỉ số sinh học đơn lẻ, mà ngày càng quan tâm nhiều hơn đến toàn bộ con người, nền tảng di truyền, thể trạng, miễn dịch, chuyển hóa, hệ vi sinh, tâm lý, môi trường sống, thói quen ăn uống, vận động và chất lượng sống.
Đây là những vấn đề mà y học cổ truyền, từ lâu, đã tiếp cận theo cách riêng của mình.

Nhiều nghiên cứu được công bố trên các cơ sở dữ liệu khoa học uy tín đã đánh giá vai trò của thảo dược, châm cứu và các phương pháp y học cổ truyền trong nhiều tình trạng sức khỏe khác nhau. Ảnh: Hoài Bảo.
Không những thế, ngày nay đã có nhiều công trình nghiên cứu được đăng tải trên các cơ sở dữ liệu khoa học quốc tế uy tín như PubMed, Cochrane và nhiều tạp chí chuyên ngành, đề cập đến tác dụng của thảo dược, châm cứu, dưỡng sinh, xoa bóp bấm huyệt, khí công và các phương pháp trị liệu không dùng thuốc khác trong một số bệnh lý hoặc tình trạng sức khỏe.
Các hội nghề nghiệp và tổ chức khoa học trên thế giới cũng ngày càng quan tâm hơn đến vai trò của y học truyền thống trong mô hình chăm sóc sức khỏe tích hợp.
Y học cổ truyền có thể trở thành nguồn phát sinh giả thuyết cho nhiều lĩnh vực khoa học hiện đại, như:
Điều đáng chú ý là một số bài thuốc cổ phương và kinh nghiệm điều trị không nhất thiết chỉ nên được xem là kết luận khoa học đã hoàn tất. Chúng có thể được xem là điểm xuất phát của nghiên cứu khoa học.
Từ một kinh nghiệm điều trị có giá trị, có thể hình thành giả thuyết, xây dựng mô hình nghiên cứu, phân tích thành phần dược chất, đánh giá tác dụng sinh học, khảo sát cơ chế, chuẩn hóa quy trình bào chế, kiểm nghiệm an toàn và tiến tới thử nghiệm lâm sàng.
Nói cách khác, y học cổ truyền không chỉ là đối tượng để khoa học hiện đại kiểm chứng, mà còn là nguồn ý tưởng cho khoa học. Đây là một nhận thức rất quan trọng.

Nhìn y học cổ truyền như một kho tri thức có khả năng gợi mở những giả thuyết mới sẽ giúp phát huy vai trò của nền y học này trong sáng tạo và phát triển khoa học. Ảnh: Trần Hiền.
Nếu chỉ xem y học cổ truyền là cái cần được chứng minh, chúng ta sẽ đặt nó ở vị trí bị động. Nhưng nếu xem y học cổ truyền là kho tri thức có khả năng tạo ra giả thuyết mới, chúng ta sẽ đặt nó vào vị trí chủ động trong tiến trình sáng tạo khoa học.
Tất nhiên, cũng cần tránh hai thái cực. Một là tuyệt đối hóa kinh nghiệm cổ truyền, xem kinh nghiệm là đúng mà không cần kiểm chứng. Hai là phủ nhận giá trị cổ truyền chỉ vì nó chưa được diễn giải bằng thuật ngữ hiện đại. Con đường đúng là tôn trọng kinh nghiệm, nhưng phải kiểm chứng bằng phương pháp khoa học phù hợp.
Dữ liệu lâm sàng: Kho tài nguyên chưa được khai thác của y học cổ truyền
Một giá trị rất quan trọng nhưng lâu nay chưa được khai thác đúng mức là nguồn dữ liệu thực tiễn lâm sàng của y học cổ truyền.
Trong nhiều thế hệ, các thầy thuốc y học cổ truyền, các lương y, các bệnh viện y học cổ truyền và các cơ sở khám chữa bệnh đã tích lũy một khối lượng rất lớn kinh nghiệm điều trị.
Những dữ liệu này bao gồm triệu chứng, thể bệnh, phép trị, bài thuốc, cách gia giảm, đáp ứng điều trị, tác dụng không mong muốn, kiêng kỵ, chế độ ăn uống, dưỡng sinh, diễn biến bệnh và kinh nghiệm phối hợp với y học hiện đại.

Nhiều tri thức y học cổ truyền vẫn còn phân tán trong bệnh án, y văn cổ và kinh nghiệm của các thầy thuốc, đặt ra yêu cầu cấp thiết về chuẩn hóa và số hóa. Ảnh: Hoài Bảo.
Tuy nhiên, phần lớn dữ liệu ấy hiện vẫn còn phân tán.
Một phần nằm trong bệnh án giấy. Một phần nằm trong sách vở, y văn cổ, tài liệu gia truyền. Một phần nằm trong trí nhớ và kinh nghiệm cá nhân của từng thầy thuốc. Nếu không được ghi nhận, chuẩn hóa và số hóa, những tri thức này có thể mất dần theo thời gian.
Đây là một tổn thất rất lớn. Bởi trong kỷ nguyên khoa học dữ liệu, dữ liệu chính là tài nguyên chiến lược.
Nếu y học cổ truyền Việt Nam có thể xây dựng được hệ thống bệnh án chuẩn hóa, ngân hàng bài thuốc, ngân hàng dược liệu, ngân hàng thể bệnh, cơ sở dữ liệu về hiệu quả điều trị và dữ liệu về phối hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại, sẽ là nền tảng quan trọng cho nghiên cứu, đào tạo, quản lý và phát triển sản phẩm.
Nguồn dữ liệu thực tiễn lâm sàng này có thể giúp trả lời nhiều câu hỏi quan trọng như phương pháp nào hiệu quả với nhóm bệnh nào, thể bệnh nào đáp ứng tốt với bài thuốc nào, cách gia giảm nào thường được sử dụng, phối hợp với y học hiện đại ở giai đoạn nào là phù hợp, yếu tố nào dự báo đáp ứng điều trị, tác dụng không mong muốn nào cần lưu ý, và mô hình chăm sóc nào giúp nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

Khai thác và chuẩn hóa dữ liệu lâm sàng y học cổ truyền có thể mở ra tiềm năng ứng dụng trong khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và phát triển các phương pháp điều trị tích hợp. Ảnh: Trần Hiền.
Nếu được khai thác đúng, dữ liệu lâm sàng của y học cổ truyền Việt Nam có thể trở thành nguồn lực quý giá cho khoa học dữ liệu y tế, trí tuệ nhân tạo trong hỗ trợ chẩn đoán - điều trị, nghiên cứu thực chứng và xây dựng các phác đồ tích hợp.
Nhưng để làm được điều này, cần có một bước chuyển lớn, chuyển y học cổ truyền từ kinh nghiệm phân tán sang tri thức có tổ chức; từ ghi chép rời rạc sang dữ liệu chuẩn hóa; từ thực hành cá nhân sang mạng lưới nghiên cứu chung; từ truyền khẩu sang hệ thống tri thức có thể kiểm chứng và kế thừa.
PGS.TS.BS Nguyễn Thị Bay
Sản xuất: Phan Nhật
18 giờ trước
2 giờ trước
4 giờ trước
3 phút trước
9 phút trước
38 phút trước
46 phút trước
51 phút trước
1 giờ trước
2 giờ trước