Xuất khẩu sang Mỹ: Doanh nghiệp cần chuẩn bị những gì?
Tại hội thảo "Phát triển kinh doanh với thị trường Hoa Kỳ” do Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) tổ chức ngày 18/8, các chuyên gia đã làm rõ những biến chuyển trong xu hướng tiêu dùng tại Mỹ, đồng thời đưa ra nhiều khuyến nghị chiến lược giúp doanh nghiệp trong nước chủ động thích ứng và khai thác hiệu quả dư địa tăng trưởng.
Quy mô tiêu dùng "khủng"
Theo Tham tán thương mại - Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Mỹ Đỗ Ngọc Hưng, Mỹ hiện có dân số khoảng 342,6 triệu người tiêu dùng. Chi tiêu tiêu dùng cá nhân đạt khoảng 22.100 tỷ USD, tương đương gần 68% GDP. Năm 2025, Mỹ chi tới 3.410 tỷ USD để nhập khẩu hàng hóa.
Trong giao thương giữa Mỹ với Việt Nam, hơn hai thập kỷ qua, thương mại hai nước đã đạt được nhiều kết quả ấn tượng, khi tăng từ mức 1,4 tỷ USD năm 2001 lên gần 209 tỷ USD năm 2025. Trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch thương mại hai chiều đạt khoảng 132,4 tỷ USD. Việt Nam trở thành đối tác thương mại hàng hóa lớn thứ năm của Mỹ trên toàn cầu.
Dù vậy, ông Hưng cũng lưu ý: “Mỹ là thị trường có quy mô lớn nhưng không đồng nhất. Nhu cầu tiêu dùng, hệ thống phân phối, quy định quản lý và chi phí tiếp cận có sự khác biệt đáng kể giữa các bang, các vùng và từng nhóm khách hàng. Vì vậy, doanh nghiệp cần xác định cụ thể phân khúc mục tiêu, kênh phân phối, khu vực địa lý và tổng chi phí của hàng hóa khi đến tay người mua”.

Ông Đỗ Ngọc Hưng chia sẻ theo hình thức online. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN
Xu hướng tiêu dùng mới
Nói về xu hướng tiêu dùng tại Mỹ hiện nay, tham tán Đỗ Ngọc Hưng cho hay, người mua nước này ngày càng yêu cầu cao hơn về tính linh hoạt trong giao hàng, tốc độ phản hồi và khả năng bổ sung hàng hóa.
Đối với thực phẩm và hàng tiêu dùng, nhu cầu có xu hướng chuyển sang các sản phẩm tiện lợi, chế biến sâu, có thông tin rõ ràng về nguồn gốc, sức khỏe và tính bền vững.
Đối với dệt may, da giày, đồ gỗ và hàng công nghiệp, người mua tại Mỹ đặc biệt quan tâm đến khả năng truy xuất nguyên liệu, tính ổn định của chất lượng và cơ chế kiểm soát các nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng.
Theo ông Hưng, Việt Nam có lợi thế đối với nhiều nhóm hàng như điện tử, máy móc, dệt may, da giày, đồ gỗ, thủy sản, nông sản và hàng tiêu dùng. Cùng với xu hướng đa dạng hóa nguồn cung của Mỹ, các lợi thế này của Việt Nam sẽ tạo thêm không gian mở rộng cho hàng hóa xuất khẩu.
Tuy nhiên, xu hướng này không đồng nghĩa với việc đơn hàng sẽ tự động chuyển dịch sang Việt Nam, nhất là khi các nhà nhập khẩu Mỹ ngày càng chú trọng năng lực sản xuất thực chất, giá trị gia tăng được tạo ra tại Việt Nam và khả năng cung cấp dữ liệu đầy đủ để phục vụ hoạt động thẩm định, kiểm tra và tuân thủ.
Rào cản cho doanh nghiệp: rủi ro xuất xứ hàng hóa, ESG
Từ thực tiễn thị trường, chỉ ra những thách thức đối với doanh nghiệp Việt, ông Trần Lịch, Giám đốc VISIA – Vườn ươm và tăng tốc khởi nghiệp tác động Việt Nam (Associate Partner) cho rằng, doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn khi nghiên cứu thị trường và hiểu người tiêu dùng Mỹ. Nhiều doanh nghiệp khi tiếp cận chưa có chiến lược marketing và kênh bán phù hợp với Mỹ.
Một số doanh nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu về vốn lưu động và chưa quản trị dòng tiền tối ưu để vận hành và mở rộng quy mô...

Ông Trần Lịch, Giám đốc VISIA – Vườn ươm và tăng tốc khởi nghiệp tác động Việt Nam (Associate Partner). Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN
Trong khi đó, ông Đỗ Ngọc Hưng lưu ý, khu vực FDI của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ chiếm tới hơn 80% tỷ trọng, doanh nghiệp nội địa chỉ chiếm khoảng 20%.
“Diễn biến này cho thấy yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục gia tăng kim ngạch xuất khẩu, mà còn phải nâng cao năng lực tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng, tăng tỷ lệ nội địa hóa và nâng cao giá trị gia tăng được tạo ra trong nước,” theo ông Đỗ Ngọc Hưng.
Đồng tình với quan điểm này, ông Vũ Tú Thành, Quyền Giám đốc điều hành khu vực ASEAN kiêm Trưởng đại diện tại Việt Nam, Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN cho rằng, khối FDI hiện vẫn chiếm phần lớn xuất khẩu sang Mỹ, doanh nghiệp nội địa lại chỉ làm khâu hoàn thiện cuối cùng, điều này dẫn tới sự thiếu lợi thế bền vững.
Mặt khác, Mỹ cũng đang tăng cường kiểm tra nguồn gốc nhằm ngăn chặn chuyển tải bất hợp pháp, doanh nghiệp xuất khẩu vào đây sẽ phải đối mặt với quy trình kiểm soát nghiêm ngặt hơn.
Tiêu chuẩn ESG, tiêu chuẩn xanh sẽ là những yêu cầu doanh nghiệp phải đáp ứng, bởi các nhà bán lẻ Mỹ đang bắt buộc phải tuân thủ tiến trình giảm phát thải carbon, năng lượng sạch, bảo đảm điều kiện lao động và minh bạch chuỗi cung ứng.
Tăng tỷ lệ nội địa hóa, đầu tư vào công nghệ
Dù vậy, khó khăn không đồng nghĩa với bất khả thi, sự chuẩn bị bài bản sẽ mở ra con đường để doanh nghiệp chinh phục các đối tác Mỹ. Theo ông Trần Lịch, doanh nghiệp cần lựa chọn kênh phân phối đặc thù và các đối tác địa phương; chuyển đổi từ mô hình sản xuất OEM sang ODM.
Đồng thời, phát triển thương hiệu và tham gia nhãn hiệu tập thể để chia sẻ rủi ro cũng như tập trung nguồn lực cho các doanh nghiệp SMEs Việt Nam. "Hàn Quốc và Nhật Bản chính là hai ví dụ điển hình về việc xây dựng nhãn hiệu tập thể thành công tại Mỹ," ông Trần Lịch chia sẻ.
Còn theo ông Vũ Tú Thành, xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ sẽ phải tăng tỷ lệ nội địa hóa của các doanh nghiệp Việt, trong đó tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ, xây dựng nhà cung ứng nội địa để tạo giá trị gia tăng thực tế.

Ông Vũ Tú Thành, Quyền Giám đốc điều hành khu vực ASEAN kiêm Trưởng đại diện tại Việt Nam, Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN
Đồng thời, doanh nghiệp không thể bỏ qua yếu tố công nghệ và tự động hóa. Các đơn vị sẽ cần đầu tư vào AI, nhà máy thông minh để tăng năng suất và hấp thụ biến động chi phí, logistics.
Ông Thành cũng nhấn mạnh về tầm quan trọng của truy xuất nguồn gốc minh bạch, chủ động nắm vững luật thương mại, phòng vệ thương mại và các rào cản kỹ thuật để đi đường dài.
Đáng chú ý, doanh nghiệp Việt sẽ phải xây dựng thương hiệu riêng và để xây dựng thành công, doanh nghiệp sẽ không chỉ tham gia vào công đoạn gia công thuần túy mà phải chuyển sang thiết kế, nâng cao biên lợi nhuận trên thị trường Mỹ.
Đa dạng hóa nguồn nguyên liệu
Dưới góc độ cơ quan thương vụ, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Mỹ Đỗ Ngọc Hưng cho rằng: "Hoạt động kết nối tạo ra cơ hội ban đầu; năng lực theo dõi, đáp ứng tiêu chuẩn và mức độ tin cậy của doanh nghiệp mới là những yếu tố quyết định chuyển hóa cơ hội thành đơn hàng và xây dựng quan hệ hợp tác lâu dài".
Theo ông, doanh nghiệp cần xác định đúng thị trường mục tiêu theo sản phẩm, bao gồm việc tính đến phân khúc khách hàng, khu vực địa lý và kênh phân phối. Doanh nghiệp nên áp dụng bộ hồ sơ phù hợp với phương thức tiếp cận linh hoạt cho từng đối tác, điều chỉnh phù hợp với yêu cầu của từng nhóm khách hàng và từng kênh bán hàng.
Thứ hai, chủ động xây dựng bộ hồ sơ bằng tiếng Anh đáp ứng yêu cầu thẩm định của nhà nhập khẩu trước khi tham gia hội chợ hoặc chương trình kết nối giao thương. Hồ sơ cần cung cấp rõ mã sản phẩm, chứng nhận liên quan, nguồn nguyên liệu, địa điểm và công suất sản xuất, số lượng đặt hàng tối thiểu, thời gian giao hàng, quy trình kiểm soát chất lượng và khả năng truy xuất. Tài liệu giới thiệu sản phẩm cần đi kèm các dữ liệu mà bộ phận thu mua và tuân thủ của đối tác sử dụng để xem xét, phê duyệt nhà cung cấp.

Thủy sản là một trong những mặt hàng Việt Nam xuất khẩu nhiều sang Mỹ. Ảnh minh họa: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN
Thứ ba, nâng cao giá trị gia tăng trong nước và từng bước đa dạng hóa nguồn nguyên liệu. Doanh nghiệp cần xác định rõ nguyên liệu có ý nghĩa quyết định đối với xuất xứ, nguyên liệu tiềm ẩn rủi ro, nhà cung cấp cần được kiểm tra và phương án nguồn cung thay thế. Trong trường hợp phù hợp, việc sử dụng nguyên liệu, công nghệ hoặc thiết bị của Mỹ có thể góp phần nâng cao chất lượng, tăng khả năng truy xuất và thúc đẩy thương mại hai chiều.
Thứ tư, chuyên nghiệp hóa công tác hợp đồng, logistics và thanh toán. Hợp đồng cần quy định rõ điều kiện giao hàng, chủ thể chịu trách nhiệm nhập khẩu, cơ chế điều chỉnh giá trong trường hợp chính sách thuế thay đổi, trách nhiệm về bảo hiểm, kiểm tra chất lượng và xử lý khiếu nại.
Doanh nghiệp cũng cần thẩm tra tư cách pháp lý, địa chỉ và người đại diện của đối tác; xác minh độc lập trước khi giao hàng, chuyển tiền hoặc thực hiện yêu cầu thay đổi tài khoản thanh toán qua thư điện tử (dẫn chứng các trường hợp liên quan).
Thứ năm, xác định hoạt động theo dõi sau kết nối là một khâu quan trọng của xúc tiến thương mại. Doanh nghiệp cần sớm phản hồi đối tác, gửi mẫu và báo giá theo đúng cam kết, đồng thời duy trì một đầu mối sử dụng tiếng Anh có đủ thông tin và thẩm quyền xử lý.
Ông Hưng cũng lưu ý, trong bối cảnh mới, xúc tiến thương mại cần được triển khai theo hướng toàn diện, liên tục và có trọng tâm, đa dạng hoá việc tổ chức hội chợ, đoàn khảo sát hoặc kết nối ban đầu. Đơn cử, doanh nghiệp Việt có thể quan tâm, tham gia, có các gian hàng tại các hội chợ chuyên ngành quan trọng tại Mỹ như Magic Show, Boston Seafood Expo etc.
Lê Hồng Nhung
34 phút trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
5 giờ trước
29 phút trước
40 phút trước
39 phút trước
44 phút trước
1 phút trước
1 phút trước
2 phút trước
16 phút trước
16 phút trước
21 phút trước
22 phút trước
23 phút trước
26 phút trước