🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh

47 phút trước

Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh

Anh có tên như bao khuôn mặt khác

Mẹ sinh Anh tròn ngày, tròn tháng

Cha đặt tên chọn tuổi, chọn mùa

Anh nhận ra lưỡi cày, lưỡi hái

Vẹt mòn dưới nắng, dưới mưa.

Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh

Anh từng có tên như bao khuôn mặt khác

Hạt lúa củ khoai nuôi Anh khôn lớn

Tháng Tám nước trong, tháng Năm nắng trải

Bàn chân săn chắc dáng trai.

Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh

Anh có tên như bao khuôn mặt khác.

Ngày lên đường bờ vai mặn chát

Mắt ai vấn vít hàng quân.

Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh

Anh có tên như bao khuôn mặt khác

Chiến trường gần, chiến trường xa đuổi giặc

Tên làng, tên đất theo Anh.

Bình yên sau cuộc chiến tranh

Anh trở về không tên, không tuổi

Trắng hàng bia

Những ngôi sao không nói

Rưng rưng cỏ mọc dưới chân.

Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh

Anh từng có tên như bao khuôn mặt khác

Tổ quốc không mất tên Anh

Chỉ lặng thầm nhận về mình

nỗi đau xanh cùng năm tháng.

Văn Hiền

Lời bình:

Trong những ngày tháng Bảy ân tình, khi Chiến dịch “500 ngày đêm” đang được triển khai trên phạm vi cả nước nhằm đẩy mạnh việc tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, tôi rất xúc động khi đọc bài thơ “Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh” của nhà báo Văn Hiền (nguyên Phó Tổng Biên tập Báo Nghệ An) sáng tác năm 1993.

Bài thơ được khắc trên bia đá của Nghĩa trang Liệt sĩ Hữu nghị quốc tế Việt - Lào ở xã Anh Sơn (Nghệ An), tạo ra một hiệu ứng mạnh mẽ trong lòng bạn đọc, góp phần đưa đến quyết định đổi cách gọi “liệt sĩ vô danh” thành “liệt sĩ chưa biết tên” hoặc “chưa xác định được thông tin” trên cả nước.

Cái hay của bài là năm điệp khúc như năm ngón tay xòe ra thân thiết: “Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh/ Anh có tên như bao khuôn mặt khác”. Điệp khúc mang cung bậc cảm xúc khác nhau như những cung đàn trầm, bè trầm, vẽ nên gương mặt của người liệt sĩ. Với bút pháp tả thực dung dị, nhà báo Văn Hiền, một người con của miền đất gió Lào khắc nghiệt, chỉ khắc họa vài nét của thiên nhiên đã tạo ra bản lĩnh, cốt cách của con người nơi đây thật cảm động: “Anh nhận ra lưỡi cày, lưỡi hái/ Vẹt mòn dưới nắng, dưới mưa”; và: “Hạt lúa củ khoai nuôi Anh khôn lớn/ Tháng Tám nước trong, tháng Năm nắng trải/ Bàn chân săn chắc dáng trai”. Vô danh sao được khi: “Mẹ sinh Anh tròn ngày, tròn tháng/ Cha đặt tên chọn tuổi, chọn mùa”. Ngày, tháng, tuổi, mùa cứ lớn rộng ra, cứ bồi đắp thêm để hình hài của anh lớn lên, để tâm hồn anh rộng mở, để anh thành một chàng trai trưởng thành lên đường nhập ngũ với bao tình cảm gắn bó thân thiết với người thân, người yêu.

Câu thơ thật sống động: “Ngày lên đường bờ vai mặn chát” của nước mắt người yêu để rồi lan tỏa một tình yêu cộng đồng lớn lao hơn: “Mắt ai vấn vít hàng quân”. Chính hai câu thơ này đã làm tươi mát, thay đổi sắc thái của một mạch thơ nhiều day dứt, trăn trở, nhiều hồi tưởng ngẫm ngợi sâu xa. Mỗi liệt sĩ hy sinh khi chưa tìm ra tên tuổi, quê quán mang theo bao bí mật nhưng không thể vô danh. Câu thơ “Chiến trường gần, chiến trường xa đuổi giặc/ Tên làng, tên đất theo Anh” làm tôi chợt nhớ đến câu thơ rất hay có sức khái quát của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: “Họ gánh theo tên xã, tên làng trong một chuyến di cư”. Ở đây người lính hy sinh mang theo cả tên làng, tên xóm, mang theo cả những ký ức tuổi thơ lẫn nỗi niềm xao xuyến.

Một hình ảnh thật xúc động về nghĩa trang liệt sĩ hiện lên qua hai câu thơ: “Trắng hàng bia/ Những ngôi sao không nói”. Từ “Rưng rưng cỏ mọc dưới chân” đến “nỗi đau xanh cùng năm tháng”, màu xanh của cỏ không chỉ phủ lên những nấm mộ mà còn trở thành màu xanh của ký ức, của sự tri ân và lòng biết ơn bất tận. Đó cũng là lời khẳng định đầy nhân văn: Mỗi người lính ngã xuống đều có một tên riêng, một quê hương, một cuộc đời để nhớ. Bởi vậy, “Anh từng có tên như bao khuôn mặt khác/ Tổ quốc không mất tên Anh” không chỉ là tiếng nói của nhà thơ mà còn là lời nhắc nhở mỗi chúng ta về trách nhiệm gìn giữ ký ức và trả lại tên cho những người đã hy sinh vì Tổ quốc.

Hà Huy (chọn và bình)
















Home Icon VỀ TRANG CHỦ