Vườn vải đẹp - Lời giải cho thích ứng biến đổi khí hậu


Điều đáng chú ý là giữa hàng nghìn ha vải mất mùa vẫn xuất hiện 143 vườn vải sai trĩu quả, chất lượng vượt trội. Những khu vườn ấy không chỉ mang lại giá trị kinh tế cho người trồng mà còn mở ra lời giải quan trọng cho bài toán thích ứng với biến đổi khí hậu.


Vụ vải thiều năm 2026 được xem là một trong những vụ sản xuất khó khăn nhất của người trồng vải Bắc Ninh trong nhiều năm trở lại đây. Ngay từ giai đoạn phân hóa mầm hoa, nền nhiệt cao kéo dài, thời gian rét ngắn khiến nhiều diện tích phát triển lộc đông thay vì hình thành mầm hoa.

Một vườn vải ở thôn Chay, xã Lục Ngạn vẫn giữ được tỷ lệ đậu quả cao do biết cách chăm sóc tốt.
Đến thời kỳ ra hoa, đậu quả, nhiệt độ và độ ẩm tiếp tục duy trì ở mức cao làm tỷ lệ đậu quả giảm mạnh. Khi bước vào thu hoạch, mưa rào xen kẽ nắng nóng tạo điều kiện cho sâu bệnh phát sinh, đặc biệt là sâu đục quả; cuối vụ, nhiều ngày nhiệt độ vượt 40 độ C khiến nhiều diện tích quả bị rám nắng.
Kết thúc vụ sản xuất, toàn tỉnh thu hoạch được hơn 131,5 nghìn tấn vải, chỉ đạt hơn 82% kế hoạch và bằng khoảng 64% so với năm trước. Tuy nhiên, nếu quy toàn bộ nguyên nhân của vụ mất mùa cho thời tiết thì chưa phản ánh đầy đủ thực tế.
Điều đáng suy ngẫm là trong cùng điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, trên cùng một quả đồi, thậm chí hai vườn nằm sát nhau, kết quả thu hoạch lại hoàn toàn khác biệt. Có những vườn gần như không có quả, nhưng cũng có những vườn sai trĩu cành, đạt năng suất cao, chất lượng tốt và được công nhận là vườn vải đẹp.

Năm nay, vườn vải của gia đình ông Nguyễn Văn Cường ở thôn An Toàn, xã Kiên Lao vẫn ra sai quả.
Gia đình ông Trần Văn Bốn, thôn Bến Huyện, xã Nam Dương là một ví dụ tiêu biểu. Với 2 ha vải, chủ yếu là giống chín sớm, gia đình vẫn thu được khoảng 10 tấn quả, doanh thu gần 700 triệu đồng và đoạt giải Nhì cuộc thi vườn vải đẹp năm 2026. Theo ông, yếu tố quyết định là tính toán hợp lý việc bón phân, khoanh cành để hạn chế phát sinh lộc đông, tạo điều kiện cho cây phân hóa mầm hoa đúng thời điểm.
Tương tự, ông Nguyễn Văn Cường, chủ vườn vải đẹp tại thôn An Toàn, xã Kiên Lao với gần 300 gốc vải trồng từ năm 1997, vẫn thu được hơn 6 tấn quả trong vụ vừa qua. Theo kinh nghiệm của ông, muốn cây ra hoa ổn định phải kiểm soát tốt giai đoạn lộc cuối, kết hợp linh hoạt giữa khoanh cành, khoanh gốc, điều tiết nước tưới, sử dụng phân bón và vi lượng hợp lý để đưa cây chuyển đúng thời điểm từ sinh trưởng dinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực.
Những kinh nghiệm ấy cho thấy biến đổi khí hậu có thể làm gia tăng rủi ro, nhưng không đồng nghĩa với việc mọi vườn vải đều bị mất mùa. Nếu thời tiết là yếu tố khách quan thì kỹ thuật canh tác chính là yếu tố chủ quan, con người có thể chủ động điều chỉnh. Càng trong điều kiện khí hậu bất thường, vai trò của quy trình kỹ thuật càng trở nên quyết định.


Việc Bắc Ninh công nhận 143 vườn vải đẹp trong năm nay vì thế mang nhiều ý nghĩa hơn một cuộc thi tôn vinh những khu vườn xanh, sạch, đẹp hay phục vụ phát triển du lịch trải nghiệm. Đó chính là những "phòng thí nghiệm ngoài đồng ruộng", nơi lưu giữ kinh nghiệm sản xuất quý giá đã được kiểm chứng ngay trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt.

Vợ chồng ông Trương Văn Bình, thôn Muối, xã Lục Ngạn cắt tỉa cành tăm để tập trung dinh dưỡng phát triển lộc mới sau khi thu hoạch vải.
Nếu vụ vải năm 2026 là phép thử của biến đổi khí hậu thì những khu vườn này chính là minh chứng cho khả năng thích ứng của người nông dân. Thành công ấy không đến từ may mắn mà được tạo nên bằng quá trình quan sát cây trồng, tích lũy kinh nghiệm và chủ động điều chỉnh quy trình chăm sóc theo diễn biến thời tiết.
Ông Trương Văn Bình, thôn Muối, xã Lục Ngạn có vườn vải đẹp rộng gần 1 ha, chia sẻ: “Bằng kinh nghiệm chăm lộc và khoanh cành đúng thời điểm nên năm nào vườn vải của gia đình cũng cho sai quả. Riêng vụ vải vừa rồi đạt 5,5 tấn quả, bán thu về 350 triệu đồng”.
Thực tế cho thấy, giá trị của những kinh nghiệm như hộ các ông Bốn, Cường, Bình sẽ khó được phát huy nếu chỉ dừng lại ở từng hộ sản xuất. Điều cần làm lúc này là tổ chức khảo sát toàn diện các vườn đạt năng suất cao; đánh giá khoa học từng yếu tố như giống, chế độ dinh dưỡng, kỹ thuật khoanh cành, điều tiết nước tưới, phòng trừ sâu bệnh, chống nắng nóng, hạn chế rám quả... Từ đó, xây dựng thành các quy trình kỹ thuật chuẩn phù hợp với từng nhóm giống và từng vùng sinh thái.

Cành ghép từ giống vải U hồng sang giống vải U trứng của gia đình anh Nguyễn Hữu Tuấn, thôn Đồng Quýt, xã Nam Dương sau gần 2 tháng đã lên xanh tốt.
Đây cũng là cách để chuyển hóa kinh nghiệm cá nhân thành tri thức chung của những người trồng vải. Thay vì để mỗi người dân tự mày mò, tích lũy theo phương thức "cha truyền con nối", những quy trình đã được kiểm chứng cần được phổ biến rộng rãi thông qua hệ thống khuyến nông, các lớp tập huấn và mô hình trình diễn.


Cùng với kỹ thuật canh tác, cơ cấu giống cũng đặt ra yêu cầu đổi mới. Thực tế vụ vải năm 2026 cho thấy các giống chín sớm như U hồng, đặc biệt là U trứng đã thể hiện nhiều ưu thế về năng suất, mã và giá trị kinh tế.
Không ít hộ dân đã chủ động chuyển từ giống U hồng, vải thiều hoặc lai Thanh Hà sang U trứng thông qua kỹ thuật chiết ghép. Đây là xu hướng tất yếu của sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, nếu việc chuyển đổi diễn ra tự phát, thiếu cơ sở khoa học thì nguy cơ mất cân đối cơ cấu giống hoặc phát sinh những rủi ro mới là điều hoàn toàn có thể xảy ra.

Người dân phun thuốc phòng, chống sâu ăn lá non trên cây vải.
Theo đồng chí Phạm Văn Thịnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, thời gian tới, tỉnh sẽ chỉ đạo tiến hành sàng lọc các giống chuẩn, giống mới; tổ chức khảo nghiệm, đánh giá đầy đủ đặc tính sinh trưởng của từng giống một cách bài bản. Trên cơ sở đó sẽ chủ động tạo ra các điều kiện thích ứng môi trường, điều tiết thời vụ, nâng cao giá trị kinh tế. Song song với đó là việc tăng cường kết nối doanh nghiệp, các nhà khoa học với người trồng vải dưới sự hỗ trợ của cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương nhằm xây dựng vùng nguyên liệu phát triển theo hướng hiện đại, bền vững.
Bên cạnh đó, cây vải cần được đầu tư mạnh hơn về khoa học và công nghệ. Hệ thống tưới tiết kiệm, tưới phun sương chống nắng nóng, quản lý dinh dưỡng theo từng giai đoạn sinh trưởng, sử dụng phân bón hữu cơ, chế phẩm sinh học, ứng dụng công nghệ số trong theo dõi thời tiết, cảnh báo sâu bệnh và hướng dẫn kỹ thuật... không còn là những giải pháp mang tính thử nghiệm mà cần trở thành một phần của quy trình sản xuất hiện đại.

Cán bộ xã Kiên Lao trao đổi với người dân về kỹ thuật chăm sóc lộc non trên cây vải sau thu hoạch.
Có thể nói, vụ vải năm 2026 không chỉ để lại bài học về tác động của biến đổi khí hậu mà còn mở ra cơ hội nhìn nhận lại toàn bộ phương thức sản xuất. Điều quan trọng nhất không phải là tìm lời giải thích cho một vụ mất mùa, mà là giải mã được nguyên nhân vì sao vẫn có những khu vườn thành công trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt để nhân rộng những kinh nghiệm quý.
Khi kinh nghiệm của các vườn vải đẹp được hệ thống hóa thành quy trình khoa học; cơ cấu giống được rà soát, tuyển chọn và phát triển theo định hướng bài bản; khoa học công nghệ trở thành động lực của sản xuất, người trồng vải sẽ chủ động hơn trước những biến động của thiên nhiên. Đó chính là con đường để vùng vải Bắc Ninh thích ứng với mọi khắc nghiệt của thời tiết cực đoan và tiếp tục khẳng định thương hiệu trên thị trường trong nước và quốc tế./.

22 ngày trước
1 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
11 phút trước
31 phút trước
15 phút trước
1 phút trước
6 phút trước
16 phút trước
16 phút trước
31 phút trước
37 phút trước