🔍
Chuyên mục: Pháp luật

Vụ án hủy hoại rừng ở Nghệ An: Vì sao bị cáo kêu oan?

1 giờ trước
Theo kế hoạch, ngày 21/10/2026, TAND tỉnh Nghệ An sẽ mở phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án “Hủy hoại rừng” theo kháng cáo của bị cáo Lê Văn Thành. Theo bị cáo Thành, bản án sơ thẩm tuyên phạt 7 năm tù có nhiều chứng cứ buộc tội chưa khách quan, thậm chí mâu thuẫn.
00:00
00:00

Hình ảnh ông Lê Văn Thành cung cấp khi cho rằng ông không huỷ hoại rừng mà chủ yếu phát dọn dây leo, bụi rậm, giang bao phủ để phát triển rừng.

Tóm tắt vụ án theo bản án sơ thẩm

Theo bản án sơ thẩm của TAND khu vực 10 – Nghệ An, trong tháng 3 và tháng 4/2023, Lê Văn Thành thuê người cùng 3 máy xúc phát dọn, chặt phá, đào gốc cây, san gạt mặt bằng và đốt thực bì trên 4 thửa đất, tổng diện tích hơn 11,3 ha rừng sản xuất là rừng tự nhiên tại xã Bắc Sơn, huyện Quỳ Hợp (nay thuộc xã Mường Chọng, tỉnh Nghệ An), nhằm lấy đất trồng keo, quế.

Theo kết quả xác định hiện trạng, trước khi bị tác động, khu vực có khoảng 5,2 ha rừng hỗn giao gỗ – tre nứa (HG1), 2,8 ha rừng nứa (NUA) và 3,2 ha đất trống có cây gỗ tái sinh (DT2).

Sau khi bị tác động, một phần diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng, chỉ còn cây gỗ lớn phân tán; phần còn lại chuyển thành đất trống hoặc đã được trồng cây lâm nghiệp. Trong đó, diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng là hơn 5,2 ha, diện tích rừng bị hủy hoại hoàn toàn là hơn 2,8 ha. Số cây nứa bị thiệt hại được xác định là 32.679 cây.

Về thiệt hại lâm sản, bản án đề cập 2,097 m³ gỗ nhóm VIII và 2,5 ster củi, được Hội đồng định giá tài sản tỉnh Nghệ An định giá 2.794.000 đồng (hai triệu bảy trăm chín tư ngàn đồng). Đây cũng chính là tang vật lực lượng chức năng thu giữ tại hiện trường vụ án.

Bên cạnh đó, 56,11 m³ gỗ và 32.679 cây nứa được Hội đồng định giá tài sản huyện Quỳ Hợp định giá tổng cộng 153,16 triệu đồng, trong đó riêng số nứa trị giá hơn 130 triệu đồng. Đây là số tài sản mà cơ quan tố tụng xác định bị cáo Thành đã gây thiệt hại. Theo cơ quan tiến hành tố tụng, tổng giá trị thiệt hại, lâm sản được xác định là 155,95 triệu đồng.

Tòa án xác định tổng diện tích rừng bị hủy hoại và suy giảm nghiêm trọng là hơn 8 ha, từ đó tuyên Lê Văn Thành phạm tội "Hủy hoại rừng" theo điểm b khoản 3 Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Số liệu hiện trạng rừng vênh nhau

Theo các tài liệu phía ông Lê Văn Thành (bị cáo trong vụ án) cung cấp, hiện trạng những thửa đất rừng liên quan được ghi nhận không đồng nhất giữa các thời kỳ. Đáng chú ý có sự khác biệt giữa số liệu kiểm kê rừng năm 2015, hồ sơ giao rừng năm 2019 và số liệu theo dõi diễn biến rừng năm 2022.

Cụ thể, theo bảng số liệu kiểm kê rừng năm 2015 (theo quyết định phê duyệt kết quả kiểm kê rừng tỉnh Nghệ An) cho thấy:

- Thửa 93 có tổng diện tích 8,33 ha, gồm 2,43 ha đất trống, 0,52 ha rừng trồng keo và các lô rừng tự nhiên thuộc trạng thái rừng tự nhiên thường xanh nghèo (TXP) và rừng tự nhiên thường xanh nghèo kiệt (TXN).

- Thửa đất 133, trong tổng diện tích 7,48 ha có 4,36 ha đất trống, chiếm khoảng 58,3%. Phần diện tích còn lại gồm các lô rừng tự nhiên, trong đó có 1,01 ha được ghi nhận là rừng hỗn giao gỗ – tre nứa (HG1).

- Thửa 138, tài liệu ghi nhận 0,34 ha đất nông nghiệp, 6,07 ha thuộc trạng thái HG1 và 0,38 ha thuộc trạng thái TXP.

- Thửa 161 có 1,54 ha đất trống bên cạnh các lô rừng tự nhiên; trong khi thửa 173 được ghi nhận có 25,13 ha thuộc trạng thái HG1.

Kết quả kiểm kê rừng 2015.

Số liệu kiểm kê năm 2015 cho thấy, tại mỗi thửa đất đều có nhiều trạng thái rừng và loại đất khác nhau, không đồng nhất trên toàn bộ diện tích. Do đó, việc xác định diện tích bị thiệt hại cần làm rõ ranh giới tác động thực tế, loại đất và trạng thái rừng tại từng vị trí.

Bên cạnh đó, một số diện tích đất, trạng thái rừng và trữ lượng rừng đã có những thay đổi đáng kể so với số liệu kiểm kê trước đó.

Cụ thể, trong hồ sơ giao rừng năm 2019, tại thửa 93, toàn bộ diện tích 8,3 ha được phân thành hai loại, gồm 1,1 ha đất nông nghiệp (NN) và 7,2 ha thuộc trạng thái rừng tự nhiên thường xanh nghèo kiệt TXN. 

Tại thửa 133, toàn bộ diện tích được ghi nhận chuyển sang trạng thái TXN. Đối với thửa 138, 6,8 ha lại được ghi nhận thuộc trạng thái TXN. Thửa 161 không còn diện tích đất trống như trước, còn thửa 173 được ghi nhận chuyển từ trạng thái HG1 sang TXN. 

Biên bản xác định hiện trạng đất, rừng năm 2019 tại lô 93 có xác nhận của đại diện Hạt Kiểm lâm huyện Quỳ Hợp cũ.

Một vấn đề khác được ông Lê Văn Thành đặt ra là sự khác biệt giữa số liệu hiện trạng rừng năm 2022 và hồ sơ giao rừng năm 2019. Theo đó, số liệu hiện trạng rừng năm 2022 có nhiều điểm tương đồng với kết quả kiểm kê rừng năm 2015, nhưng khác biệt so với hồ sơ giao rừng năm 2019.

Trong khi đó, tại Kết luận giám định số 06/KL-GĐ ngày 12/6/2023 của Trung tâm Tư vấn và Phát triển Lâm nghiệp thuộc Viện Điều tra, Quy hoạch rừng, các khu vực bị ông Thành tác động tại những thửa đất liên quan được xác định có thêm trạng thái NUA (rừng nứa), với diện tích hơn 2,8 ha.

Kết luận giám định số 06/KL-GĐ ngày 12/6/2023.

Từ những khác biệt này, phía bị cáo đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm làm rõ căn cứ chuyên môn, phương pháp đo đạc, kiểm kê và xác định trạng thái rừng; đồng thời đối chiếu với tài liệu về tăng trưởng trữ lượng rừng và hướng dẫn thực hiện Đề án giao rừng theo Quyết định số 4213/QĐ-UBND ngày 20/9/2018 của UBND tỉnh Nghệ An.

Cần làm rõ căn cứ và kết quả giám định

Liên quan đến diện tích rừng bị hủy hoại được nêu trong bản án sơ thẩm, ông Lê Văn Thành cho biết: "Tôi khẳng định không có lô rừng nào là rừng nứa (NUA) trong hồ sơ kiểm kê rừng năm 2015, kết quả theo dõi diễn biến rừng năm 2022 và Quyết định giao rừng năm 2019. Các tài liệu này chỉ ghi nhận lô 15, thửa 133, có 1,01 ha rừng hỗn giao (HG1); khu vực lô 29 thuộc hai vùng tác động có tổng diện tích 1,07 ha. Như vậy, tổng diện tích rừng HG1 tại hai khu vực chỉ khoảng 2,08 ha".

Bị cáo Thành cho rằng, việc phát triển rừng là quyền và trách nhiệm của chủ rừng theo Luật Lâm nghiệp năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Các cây rừng tự nhiên tại khu vực bị tác động vẫn được ông Thành giữ lại, hoạt động chủ yếu là phát dọn dây leo, bụi rậm, dây giang và cây cong queo, phi mục đích, cây cụt ngọn... nhằm tạo điều kiện cho cây rừng phục hồi. Từ đó, ông đề nghị làm rõ căn cứ xác định trạng thái NUA trong Kết luận giám định số 06/KL-GĐ ngày 12/6/2023, đồng thời đối chiếu với hồ sơ quản lý rừng và bản đồ qua các thời kỳ.

Ông Lê Văn Thành đưa ra chứng cứ khi đến Báo Phụ nữ Việt Nam phản ánh về vụ án.

Đối với thiệt hại lâm sản, theo nội dung trình bày, trong buổi khảo sát sáng 18/5/2023, hai cán bộ kỹ thuật chỉ lập bảng kê tại hai ô tiêu chuẩn và một ô đối chứng, không ghi nhận cụ thể các gốc cây, bụi nứa bị thiệt hại tại cả hai khu vực.

Vì vậy, căn cứ xác định 56,11 m³ gỗ và 32.679 cây nứa được đề nghị làm rõ, nhất là về chủng loại, nhóm gỗ, kích thước và hình ảnh hiện trường tương ứng với toàn bộ diện tích bị xác định thiệt hại.

Từ đó, cần làm rõ phương pháp khảo sát, tính toán và ngoại suy số liệu từ các ô tiêu chuẩn, đồng thời đối chiếu hồ sơ giám định, bảng kê lâm sản, tài liệu đo đạc và hình ảnh hiện trường để xác định căn cứ chuyên môn của kết quả giám định.

Bên cạnh đó, ông Thành cho biết, khi công nhân vẫn đang "làm việc" thì cơ quan chức năng vào kiểm tra. Tang vật thu giữ trong vụ án chỉ gồm một xe công nông. Số tang vật này được xác định gồm 2,097 m³ gỗ nhóm VIII (76 khúc gỗ tạp, dài 90 cm mỗi khúc) và 2,5 ster củi, được Hội đồng định giá tài sản tỉnh Nghệ An xác định có giá trị 2.794.000 đồng.

Tang vật thu giữ trong vụ án.

"Trước đó, Hội đồng định giá tài sản tỉnh Nghệ An đã từ chối định giá thiệt hại là 80.000 m² rừng tự nhiên vì không có đủ điều kiện để định giá. Tuy nhiên, sau đó, cơ quan định giá tài sản của huyện vẫn định giá được...", ông Thành nói.

Tại phiên tòa phúc thẩm dự kiến ngày 21/10/2026, các nội dung thuộc phạm vi kháng cáo, kháng nghị sẽ được xem xét theo quy định pháp luật.

Nguyễn Hải















Home Icon VỀ TRANG CHỦ