🔍
Chuyên mục: Sức khỏe - Y tế

Virus Nipah không dễ lây như COVID-19 nhưng vẫn cần chủ động phòng ngừa

1 giờ trước
Theo các chuyên gia y tế, virus Nipah là tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nguy hiểm với tỷ lệ tử vong cao. Tuy nhiên, đặc điểm lây truyền của virus này có sự khác biệt rõ rệt so với SARS-CoV-2 là tác nhân gây bệnh COVID-19. Dù không dễ lây lan rộng trong cộng đồng, virus Nipah vẫn đặt ra yêu cầu cảnh giác và chuẩn bị sẵn sàng trong công tác phòng, chống dịch.
00:00
00:00

Không lây qua đường không khí, nguy cơ lây lan rộng thấp

Virus Nipah (tên khoa học Henipavirus nipahense) là virus lây truyền từ động vật sang người, đồng thời có thể lây từ người sang người trong điều kiện tiếp xúc gần hoặc thông qua thực phẩm, đồ uống bị nhiễm virus.

Virus Nipah không dễ lây lan trong cộng đồng nhưng người dân cũng không nên chủ quan.

ThS.BS. Nguyễn Ngọc Anh Tuấn, Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh cho biết, virus Nipah không lây truyền qua đường không khí như một số virus gây bệnh hô hấp khác như virus sởi hay SARS. Do đó, khó có nguy cơ bị nhiễm virus nếu chỉ đi ngang qua khu vực người từng xuất hiện. Mặt khác, các báo cáo dịch tễ cũng cho thấy chỉ số lây nhiễm cơ bản (R0) của virus Nipah được ghi nhận thấp hơn 1, nghĩa là trung bình một người nhiễm virus thường lây cho chưa đến một người khác. Vì vậy, virus Nipah không dễ lây lan rộng trong cộng đồng như virus cúm, SARS-CoV-2 hay virus sởi.

“Thực tế cho thấy, hầu hết các đợt bùng phát dịch bệnh do virus Nipah đều giới hạn trong các nhóm nhỏ, chủ yếu tại cơ sở y tế hoặc trong hộ gia đình. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc có thể chủ quan trước sự xuất hiện của virus Nipah”, ThS.BS. Nguyễn Ngọc Anh Tuấn nhấn mạnh.

ThS.BS. Nguyễn Ngọc Anh Tuấn cho biết thêm, Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh đang theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên thế giới, kịp thời tham mưu cho Bộ Y tế các biện pháp phòng, chống dịch phù hợp và hiệu quả; đồng thời hướng dẫn, tập huấn và hỗ trợ các địa phương trong công tác giám sát, xét nghiệm và phòng, chống dịch. Bên cạnh đó, viện cũng đã củng cố các đội phản ứng nhanh, sẵn sàng điều tra dịch tễ, giám sát và lấy mẫu xét nghiệm khi ghi nhận trường hợp nghi ngờ.

“Hiện nay, Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh đáp ứng đầy đủ các điều kiện về nhân sự, trang thiết bị và cơ sở vật chất; các phòng xét nghiệm đã xây dựng và hoàn thiện quy trình kỹ thuật, sẵn sàng triển khai xét nghiệm khi có đầy đủ hóa chất, sinh phẩm và xuất hiện ca bệnh nghi ngờ”, ThS.BS. Nguyễn Ngọc Anh Tuấn khẳng định.

Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Phó Chủ tịch Hội Truyền nhiễm TP Hồ Chí Minh cho biết, SARS-CoV-2 là chủng virus mới, có khả năng lây lan rất nhanh qua giọt bắn hô hấp và liên tục biến đổi. Trong khi đó, virus Nipah là dòng virus đã được ghi nhận từ lâu, với cơ chế xâm nhập khác biệt. Khả năng virus Nipah lây trực tiếp từ người sang người qua không khí để hình thành đại dịch được đánh giá là rất thấp.

PGS.TS.BS Lê Quốc Hùng, Trưởng khoa Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Chợ Rẫy cho rằng, virus Nipah không lây theo kiểu “bay xa” trong không khí nhưng có thể lan thành các cụm ca bệnh trong gia đình hoặc tại nơi chăm sóc nếu có tiếp xúc gần mà không thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng hộ.

Diễn tiến bệnh nặng, dễ bị bỏ sót giai đoạn đầu

Virus Nipah được ghi nhận có tỷ lệ tử vong cao ở người nhiễm bệnh, dao động trong khoảng 40 -75%, tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe người bệnh, từng thời điểm bùng phát dịch và chủng virus lưu hành. Hiện nay, thế giới chưa có thuốc điều trị hoặc vaccine đặc hiệu phòng bệnh do virus Nipah. Trước tính chất nguy hiểm của mầm bệnh này, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa Nipah vào danh sách các bệnh truyền nhiễm ưu tiên trong Kế hoạch Nghiên cứu và Phát triển của WHO.

Các chuyên gia y tế cho biết, bệnh do virus Nipah dễ bị bỏ sót ở giai đoạn đầu do các triệu chứng ban đầu không đặc hiệu và có thể giống cảm cúm thông thường như sốt, đau đầu, mệt mỏi, đau mỏi cơ, đau họng, nôn ói; một số trường hợp có ho hoặc khó thở. Điểm nguy hiểm của bệnh là có thể tiến triển nhanh sang viêm não.

Theo ThS.BS. Nguyễn Ngọc Anh Tuấn, thời gian ủ bệnh của virus Nipah thường dao động từ 4 - 14 ngày, tuy nhiên đã ghi nhận những trường hợp có thời gian ủ bệnh kéo dài tới 45 ngày. Người nhiễm virus có thể không có triệu chứng hoặc biểu hiện dưới nhiều bệnh cảnh khác nhau, từ nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính mức độ nhẹ đến nặng, cho tới viêm não có thể dẫn đến tử vong.

Các dấu hiệu và triệu chứng ban đầu của bệnh do virus Nipah thường không đặc hiệu, bao gồm sốt, đau đầu, đau cơ, nôn mửa và đau họng. Sau đó, bệnh có thể tiến triển với các biểu hiện như chóng mặt, buồn ngủ, rối loạn ý thức và các dấu hiệu thần kinh của viêm não cấp tính. Một số trường hợp có thể xuất hiện viêm phổi không điển hình và các vấn đề hô hấp nghiêm trọng, trong đó có suy hô hấp cấp tính.

Ở các trường hợp nặng, viêm não và co giật có thể xảy ra, bệnh tiến triển nhanh và có thể dẫn đến hôn mê trong vòng 24 - 48 giờ. Theo ghi nhận, phần lớn người bệnh sống sót sau viêm não cấp tính hồi phục hoàn toàn; tuy nhiên khoảng 20% bệnh nhân có thể để lại di chứng thần kinh lâu dài như rối loạn co giật hoặc thay đổi tính cách. Một số ít trường hợp sau khi hồi phục có thể tái phát hoặc xuất hiện viêm não khởi phát muộn.

ThS.BS. Nguyễn Ngọc Anh Tuấn cho biết thêm, việc chẩn đoán nhiễm virus Nipah được thực hiện dựa trên tiền sử dịch tễ và biểu hiện lâm sàng trong giai đoạn cấp tính và hồi phục. Các xét nghiệm chủ yếu gồm RT-PCR từ dịch cơ thể và xét nghiệm huyết thanh học phát hiện kháng thể bằng phương pháp ELISA; ngoài ra có thể sử dụng PCR và phân lập virus bằng nuôi cấy tế bào trong điều kiện an toàn sinh học phù hợp.

Theo PGS. TS.BS. Lê Quốc Hùng, hiện nay việc điều trị bệnh do virus Nipah chủ yếu là điều trị hỗ trợ và hồi sức, bao gồm hỗ trợ hô hấp trong trường hợp khó thở hoặc suy hô hấp, kiểm soát co giật, chăm sóc bệnh nhân viêm não, bù nước - điện giải, điều trị các biến chứng và thực hiện nghiêm các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện. Do đó, phát hiện sớm và chuyển tuyến điều trị phù hợp có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều trị.

Theo các chuyên gia y tế, hiện Việt Nam chưa ghi nhận ca bệnh do virus Nipah. Tuy nhiên, trong bối cảnh giao lưu, đi lại quốc tế, nguy cơ xâm nhập chủ yếu đến từ các trường hợp nhập cảnh từ vùng đang có dịch hoặc có cảnh báo.

ThS.BS. Nguyễn Ngọc Anh Tuấn cho rằng, để phòng, chống dịch bệnh trong cộng đồng, việc kiểm soát virus Nipah ở vật nuôi, đặc biệt là lợn, có vai trò quan trọng. Trong đó, thiết lập hệ thống giám sát sức khỏe động vật và động vật hoang dã theo phương pháp Tiếp cận Sức khỏe Toàn diện (One Health) là cần thiết nhằm phát hiện sớm các trường hợp nhiễm virus Nipah, qua đó cung cấp cảnh báo kịp thời cho các cơ quan thú y và y tế công cộng.

Bên cạnh đó, cách hiệu quả nhất để hạn chế hoặc ngăn ngừa lây nhiễm ở người đó là nâng cao nhận thức cộng đồng về các yếu tố nguy cơ, đồng thời tăng cường truyền thông, giáo dục người dân về những biện pháp có thể thực hiện nhằm giảm nguy cơ tiếp xúc với virus Nipah trong sinh hoạt hằng ngày.

Các chuyên gia khuyến cáo người dân không hoang mang nhưng cần cảnh giác đúng mức, thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh cá nhân và an toàn thực phẩm như rửa sạch, ưu tiên gọt vỏ trái cây; không sử dụng trái cây có dấu hiệu bị động vật cắn; hạn chế dùng đồ uống và thực phẩm tươi sống không bảo đảm vệ sinh; tránh tiếp xúc gần với dơi hoặc động vật ốm, chết bất thường.

Trong gia đình, nếu có người sốt kèm ho, khó thở hoặc có dấu hiệu lơ mơ, người chăm sóc cần đeo khẩu trang khi tiếp xúc gần, rửa tay bằng xà phòng sau khi tiếp xúc với đờm dãi hoặc đồ dùng bẩn; không dùng chung các vật dụng dễ nhiễm dịch tiết; hạn chế tụ tập thăm bệnh trong không gian kín và đưa người bệnh đi khám sớm. Khi đến cơ sở y tế, người bệnh và người nhà cần chủ động khai báo lịch sử đi lại và tiếp xúc gần đây để được phân luồng, hướng dẫn phòng lây nhiễm phù hợp.

Đan Phương/Báo Tin tức và Dân tộc

TIN LIÊN QUAN




























Home Icon VỀ TRANG CHỦ