Việt Nam trước 'chi phí ngoại tác chiến lược' từ xung đột Mỹ – Israel với Iran

Có thể hiểu ngắn gọn, chi phí ngoại tác chiến lược là tổng hợp những tổn thất kinh tế, tài chính, an ninh, thể chế và chính sách mà các quốc gia không trực tiếp tham chiến vẫn phải gánh chịu do hiệu ứng lan tỏa từ một cuộc xung đột địa chính trị lớn. Nếu trước đây chiến tranh chủ yếu được nhìn như một biến cố quân sự - lãnh thổ, thì ngày nay chiến tranh còn là một cơ chế truyền dẫn rủi ro. Nó đi qua các điểm nghẽn hàng hải, giá dầu, giá khí, lãi suất, thị trường vốn, bảo hiểm hàng hải, logistics, hàng không, kỳ vọng lạm phát và cả sự co hẹp của dư địa điều hành nhà nước.
Xung đột Mỹ - Israel với Iran hiện nay là một minh chứng rõ rệt cho điều đó. Khi chiến sự leo thang trong tháng 3-2026, giá dầu Brent đã tăng mạnh, có lúc dao động quanh vùng 112 đô la Mỹ/thùng; thị trường tài chính châu Á suy yếu; đô la Mỹ tăng giá do nhu cầu trú ẩn; lợi suất trái phiếu tăng; và kỳ vọng cắt giảm lãi suất ở nhiều nền kinh tế bị đẩy lùi. Reuters ghi nhận giá dầu Brent đã tăng khoảng 55% trong tháng 3, trong khi nhiên liệu máy bay tại Singapore và LNG tại châu Á tăng rất mạnh, phản ánh cú sốc năng lượng đã vượt xa phạm vi Trung Đông.
Chi phí ngoại tác chiến lược là tổng hợp những tổn thất kinh tế, tài chính, an ninh, thể chế và chính sách mà các quốc gia không trực tiếp tham chiến vẫn phải gánh chịu do hiệu ứng lan tỏa từ một cuộc xung đột địa chính trị lớn.
Đối với Việt Nam, đây không phải là một cuộc khủng hoảng “ở đâu đó xa xa”. Đây là một phép thử đối với năng lực chống chịu chiến lược của một nền kinh tế có độ mở rất cao, phụ thuộc lớn vào thương mại, nhập khẩu năng lượng, logistics quốc tế và ổn định vĩ mô. Theo số liệu chính thức, GDP Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 514 tỉ đô la Mỹ; tổng kim ngạch thương mại đạt hơn 930 tỉ đô la Mỹ; xuất khẩu khoảng 475 tỉ đô la Mỹ; riêng xuất khẩu sang Mỹ đạt khoảng 153 tỉ đô la Mỹ. Quy mô lớn hơn tạo ra sức chống chịu tốt hơn, nhưng độ mở lớn hơn cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam nhạy cảm hơn với mọi cú sốc địa chính trị xuyên biên giới.
Vì vậy, điều cần bàn ở đây không chỉ là chiến sự sẽ đi đến đâu, mà là:
(i) Việt Nam đang phải trả những loại “hóa đơn chiến lược” nào từ một cuộc xung đột mà mình không tham gia?
(ii) Và từ đó, Việt Nam phải ứng xử chính sách ra sao để giảm thiểu thiệt hại trước mắt, đồng thời nâng cấp sức bền chiến lược trong dài hạn?
Xung đột Trung Đông hiện nay đã trở thành một cú sốc hệ thống
Trong phân tích quốc tế hiện đại, một cuộc chiến được xem là mang tính hệ thống khi nó tác động đồng thời tới nhiều lớp của trật tự thế giới: năng lượng, thương mại, tài chính, an ninh hàng hải, chuỗi cung ứng, tâm lý đầu tư và hành vi của các ngân hàng trung ương. Xung đột Mỹ - Israel với Iran hiện nay đã tiến rất gần ngưỡng đó.
Lý do thứ nhất là yếu tố Hormuz. Eo biển Hormuz vẫn là một trong những điểm nghẽn hàng hải quan trọng nhất thế giới. Các số liệu hiện đang ghi nhận khoảng một phần năm dòng chảy dầu mỏ và LNG toàn cầu đi qua khu vực này hoặc chịu tác động trực tiếp từ diễn biến tại đây. Khi Hormuz bị đe dọa hoặc bị gián đoạn, tác động không chỉ là thiếu dầu ở Trung Đông; tác động là toàn bộ hệ thống định giá năng lượng toàn cầu bị chấn động.
Lý do thứ hai là độ sâu của cú sốc năng lượng. Hiện nay Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) đã phải tham vấn các chính phủ ở châu Á và châu Âu về khả năng tiếp tục xả kho dự trữ dầu chiến lược. Trước đó, các nước thành viên IEA đã đồng ý giải phóng 400 triệu thùng để hạ nhiệt thị trường. Chính Giám đốc IEA Fatih Birol nhận định mức độ nghiêm trọng của khủng hoảng năng lượng do chiến sự liên quan đến Iran hiện nay lớn hơn cả các cú sốc dầu mỏ những năm 1970 cộng với tác động của xung đột Nga-Ukraine lên thị trường khí đốt. Dù đây là đánh giá trong bối cảnh khủng hoảng, nó cho thấy giới điều hành năng lượng toàn cầu đang nhìn sự việc như một tình trạng khẩn cấp có tính hệ thống.
Lý do thứ ba là tính chất dây chuyền của thị trường tài chính. Khi giá năng lượng tăng sốc, thị trường không chỉ phản ứng bằng việc điều chỉnh giá dầu. Họ điều chỉnh toàn bộ kỳ vọng vĩ mô: lạm phát có thể dai dẳng hơn, lãi suất có thể giảm chậm hơn, tăng trưởng có thể yếu hơn và đô la Mỹ có xu hướng mạnh lên. Reuters cho biết thị trường đã giảm kỳ vọng về việc các ngân hàng trung ương lớn cắt giảm lãi suất; lợi suất trái phiếu Mỹ tăng; các thị trường chứng khoán châu Á giảm điểm mạnh.
Nói cách khác, xung đột này không còn là chuyện tên lửa giữa ba chủ thể. Nó đã trở thành một cú sốc đẩy rủi ro từ chiến trường quân sự sang chiến trường kinh tế toàn cầu. Và trong chiến trường kinh tế đó, chúng ta bị “lôi vào”, bằng giá dầu, bằng tỷ giá, bằng cước vận tải, bằng thiếu hụt nhiên liệu đầu vào và bằng sức ép điều hành.
“Chi phí ngoại tác chiến lược” của Việt Nam

Nếu chỉ dùng khái niệm “tác động lan tỏa”, chúng ta mới mô tả hiện tượng. Nếu dùng “chi phí ngoại tác chiến lược”, chúng ta bắt đầu có thể đo lường và thiết kế phản ứng chính sách.
Với Việt Nam, chi phí ngoại tác chiến lược từ xung đột này hiện nổi lên trên ít nhất năm tầng.
Thứ nhất, tầng năng lượng - cú sốc đầu tiên và trực diện nhất.
Đây là tầng dễ thấy nhất. Các số liệu gần đây cho thấy Việt Nam đang phải đối mặt với sự suy giảm sản lượng dầu thô trong nước, với mức dự báo chỉ còn khoảng 5,8-8 triệu tấn/năm giai đoạn 2026-2030, thấp hơn đáng kể mức trung bình 8,6 triệu tấn của năm năm gần đây do các mỏ ngoài khơi bước vào giai đoạn suy giảm tự nhiên. Trong khi đó, 80% lượng dầu thô nhập khẩu của Việt Nam trước đây đến từ Kuwait và sự gián đoạn liên quan eo biển Hormuz đã trực tiếp ảnh hưởng tới dòng cung này.
Tác động của cú sốc này không dừng ở việc nhập khẩu dầu thô cho các nhà máy lọc dầu. Giá xăng tại Việt Nam đã tăng mạnh trong tháng 3-2026. Chính phủ đã dùng Quỹ bình ổn giá xăng dầu để kìm đà tăng và song song đó còn đẩy nhanh lộ trình sử dụng xăng E10 nhằm giảm bớt áp lực chi phí nhiên liệu hóa thạch. Nếu tính toán một cách tương đối thì giá xăng tại Việt Nam tăng khoảng 50% và dầu diesel tăng khoảng 70% kể từ khi chiến sự bùng phát, theo dữ liệu từ Petrolimex.

Điều này có ý nghĩa rất lớn: với một nền kinh tế mà năng lượng vẫn là đầu vào cơ sở của vận tải, sản xuất, đánh bắt hải sản, hậu cần, xây dựng và tiêu dùng hộ gia đình, cú sốc nhiên liệu không chỉ là chuyện của doanh nghiệp xăng dầu. Nó là cú sốc vào toàn bộ kết cấu chi phí của nền kinh tế.
Thứ hai, tầng logistics - hàng không - nơi chi phí ngoại tác biến thành gián đoạn vật chất.
Một trong những tín hiệu đáng chú ý nhất trong trường hợp Việt Nam là thị trường nhiên liệu hàng không. Hiện nay Việt Nam đang chuẩn bị cho khả năng cắt giảm các chuyến bay từ tháng 4-2026 vì thiếu nhiên liệu máy bay, sau khi Trung Quốc và Thái Lan tạm ngừng xuất khẩu nhiên liệu tinh chế liên quan đến biến động do xung đột tại Iran. Việt Nam trước đó phụ thuộc khoảng 60% nguồn cung nhiên liệu hàng không nhập khẩu từ Trung Quốc và Thái Lan, nguồn từ Singapore cũng suy giảm, giá nhiên liệu bay đã lên mức gấp rưỡi so với trước chiến sự.
Đây là một ví dụ rất điển hình của chi phí ngoại tác chiến lược: Việt Nam không chỉ bị ảnh hưởng qua “giá”, mà còn bị ảnh hưởng qua “khả năng tiếp cận vật chất”. Khi nguồn cung đầu vào cho hàng không bị bóp nghẹt, tác động sẽ lan tới du lịch, vận tải nội địa, kết nối quốc tế, chi phí logistics và cả hình ảnh ổn định của thị trường. Điều này cho thấy trong các cuộc xung đột hiện đại, rủi ro không chỉ là giá tăng mà còn là khả năng đứt mạch vận hành của một số ngành.
Trong nhiều năm qua, Việt Nam quen với một môi trường quốc tế mà thách thức lớn nhất là cạnh tranh thương mại, lãi suất toàn cầu hay suy yếu cầu bên ngoài. Nhưng thế giới hiện nay đã bước sang một pha khác: địa chính trị trực tiếp trở thành biến số kinh tế vĩ mô.
Thứ ba, tầng lạm phát và điều hành vĩ mô - chiến tranh ở xa nhưng chính sách tiền tệ phải phản ứng ở gần.
Lạm phát luôn là kênh truyền dẫn nhạy nhất của khủng hoảng năng lượng. Số liệu thống kê cho thấy CPI bình quân cả năm 2025 của Việt Nam tăng 3,31%, tức vẫn trong vùng kiểm soát tương đối tốt. Nhưng chính vì nền lạm phát xuất phát điểm còn đang được neo giữ tương đối ổn, cú sốc dầu mới càng đặt ra áp lực lớn đối với năm 2026.
Nhiều ý kiến phân tích từ các chuyên gia cho thấy thị trường toàn cầu hiện đang điều chỉnh kỳ vọng theo hướng lãi suất giảm chậm hơn do chiến tranh đẩy giá năng lượng lên cao. Trong bối cảnh đó, Việt Nam phải cùng lúc xử lý ba bài toán: kiểm soát lạm phát, không làm đứt đà tăng trưởng kinh tế và giữ ổn định tỷ giá.
Nếu xử lý quá cứng theo hướng thắt chặt, tăng trưởng có thể bị ảnh hưởng; nếu xử lý quá mềm, lạm phát và tỷ giá có thể chịu sức ép. Đây chính là bản chất của chi phí ngoại tác chiến lược ở tầng vĩ mô: một cuộc chiến ở ngoài biên giới làm thu hẹp không gian chính sách của Nhà nước trong nước.
Thứ tư, tầng tăng trưởng và xuất khẩu - Việt Nam dễ tổn thương vì là nền kinh tế mở.
Thành công lớn nhất của Việt Nam nhiều năm qua cũng là điểm dễ tổn thương lớn nhất: độ mở của nền kinh tế. Ngân hàng Thế giới nhận định Việt Nam là nền kinh tế định hướng xuất khẩu nên đặc biệt nhạy cảm với sự suy yếu tăng trưởng toàn cầu và bất định chính sách thương mại.
Khi xung đột Mỹ - Israel với Iran làm giá năng lượng tăng, thị trường tài chính biến động, châu Âu và châu Á chịu áp lực chi phí cao hơn, điều đó không chỉ ảnh hưởng đến nhập khẩu nhiên liệu của Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến cầu thế giới đối với hàng hóa của Việt Nam. Một nền kinh tế với tổng kim ngạch thương mại hơn 930 tỉ đô la Mỹ và xuất khẩu khoảng 475 tỉ đô la Mỹ không thể xem sự suy yếu của nhu cầu quốc tế là chuyện bên lề.
Nói cách khác, Việt Nam không chỉ bị đánh vào đầu vào mà còn có nguy cơ bị đánh vào đầu ra.
Thứ năm, tầng bảo hộ công dân và đối ngoại - khi chi phí không chỉ là tiền.
Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 28-2-2026 đã bày tỏ quan ngại sâu sắc về xung đột leo thang tại Trung Đông, khuyến cáo công dân không tới Iran, Israel hoặc các khu vực lân cận bị ảnh hưởng nếu không thật sự cần thiết, đồng thời cho biết theo báo cáo của các cơ quan đại diện, công dân Việt Nam tại địa bàn vẫn an toàn tại thời điểm đó. Những ngày sau, Bộ Ngoại giao tiếp tục khuyến nghị công dân ở Iran, Israel và khu vực lân cận theo dõi chặt thông tin từ chính quyền sở tại và cơ quan đại diện Việt Nam.
Đây là điểm cần được nhìn như một phần của chi phí ngoại tác chiến lược. Một cuộc chiến lớn luôn kéo theo nghĩa vụ đối ngoại bổ sung: bảo hộ công dân, cập nhật cảnh báo đi lại, chuẩn bị sơ tán nếu tình hình xấu đi, điều phối với nước sở tại, bảo đảm thông tin chính xác và xử lý truyền thông khủng hoảng. Những chi phí này khó đo bằng GDP, nhưng lại rất thật trong quản trị nhà nước.
Việt Nam cần tăng cường “mức độ sẵn sàng chiến lược”
Xung đột hiện nay đặt ra một sự thật không dễ chịu: Việt Nam đã bước vào giai đoạn mà các cú sốc địa chính trị bên ngoài có thể nhanh chóng đi xuyên qua hệ thống kinh tế trong nước, nhưng nhiều cấu phần bảo vệ chiến lược của ta vẫn chưa đủ dày.
Làm sao để mỗi cú sốc địa chính trị đi qua, Việt Nam tổn thương ít hơn, phục hồi nhanh hơn và mạnh hơn về cấu trúc? Muốn vậy, phải coi an ninh năng lượng là an ninh quốc gia; phải coi dự trữ chiến lược là hạ tầng của chủ quyền; phải coi ngoại giao kinh tế là công cụ chống sốc; và phải coi năng lực điều hành liên ngành là một phần của sức mạnh quốc gia trong thời đại bất ổn.
Thứ nhất, an ninh năng lượng của Việt Nam vẫn còn thiên về điều hành ngắn hạn hơn là cấu trúc dài hạn. Việc sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu, thúc đẩy tiết kiệm nhiên liệu, tìm nguồn thay thế khẩn cấp, tăng tiếp cận dầu từ các đối tác khác hay đẩy nhanh lộ trình sử dụng xăng E10 cho thấy hệ thống đang phản ứng tương đối nhanh; nhưng đồng thời cũng cho thấy Việt Nam vẫn còn phụ thuộc lớn vào khả năng mua được nhiên liệu trên thị trường quốc tế với giá chấp nhận được. Khi Reuters ghi nhận 80% dầu thô nhập khẩu của Việt Nam trước đây đến từ Kuwait và nguồn này bị ảnh hưởng bởi eo biển Hormuz, đó là dấu hiệu rõ của rủi ro tập trung nguồn cung.
Thứ hai, dự trữ chiến lược và khả năng chống sốc logistics còn là bài toán lớn. Khủng hoảng nhiên liệu hàng không là lời cảnh báo. Một khi nền kinh tế mở phụ thuộc nặng vào lưu chuyển hàng hóa và con người, thì dự trữ không thể chỉ tính theo xăng dầu bán lẻ. Nó phải tính cả nhiên liệu hàng không, hóa chất đầu vào, container, bảo hiểm hàng hải, năng lực đổi tuyến và đệm tín dụng cho nhà nhập khẩu đầu mối.
Thứ ba, khung dự báo và phản ứng liên ngành của Việt Nam còn cần nâng cấp. Chiến tranh hiện đại truyền tác động theo chuỗi chéo ngành: từ dầu sang lạm phát; từ lạm phát sang lãi suất; từ lãi suất sang doanh nghiệp; từ logistics sang du lịch; từ hàng không sang dịch vụ; từ tỷ giá sang nợ và nhập khẩu. Nếu cơ chế điều hành vẫn thiên về xử lý từng ngành riêng lẻ, hiệu quả sẽ thấp hơn tốc độ lan truyền của cú sốc.
Thứ tư, ngoại giao kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng cần được hình dung rộng hơn. Ngoại giao không chỉ là tuyên bố lập trường hay bảo hộ công dân. Ngoại giao lúc này phải giúp mở nguồn cung năng lượng, giữ thông tuyến vận tải, bảo đảm tín dụng thương mại, tìm nguồn thay thế cho nhiên liệu đầu vào và đa dạng hóa đối tác chiến lược trong các chuỗi quan trọng.
Hàm ý chính sách cho Việt Nam - từ chữa cháy ngắn hạn đến xây sức bền dài hạn
Nếu coi xung đột Mỹ - Israel với Iran chỉ là một biến cố nhất thời, phản ứng chính sách của Việt Nam sẽ dừng ở mức độ bình ổn giá và xoay nguồn hàng. Nhưng nếu chúng ta xem đây là một bài kiểm tra của thời đại địa chính trị bất ổn, thì phản ứng cần sâu hơn. Vì thế, nghiên cứu này đề xuất bảy nhóm giải pháp.
Nhóm 1: Xây dựng khung điều hành “chi phí ngoại tác chiến lược” ở cấp Chính phủ.
Việt Nam cần chính thức coi các cú sốc địa chính trị bên ngoài là một biến số điều hành trung tâm, không phải yếu tố ngoại vi. Nên có một cơ chế liên ngành thường trực giữa Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Bộ Xây dựng, Bộ Quốc phòng và các doanh nghiệp trụ cột để cập nhật theo thời gian thực năm nhóm chỉ báo: giá năng lượng, an ninh nguồn cung, gián đoạn logistics, áp lực tỷ giá - lãi suất, và rủi ro đối với công dân/doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài. Điểm quan trọng ở đây là không đợi khủng hoảng bùng lên rồi họp xử lý, mà phải có hệ thống cảnh báo sớm về chi phí ngoại tác chiến lược.
Nhóm 2: Giảm rủi ro tập trung nguồn cung năng lượng.
Các số liệu đều cho thấy sự phụ thuộc lớn của Việt Nam vào dầu thô từ Kuwait đã trở thành điểm yếu khi eo biển Hormuz bị ảnh hưởng. Việt Nam cần đặt mục tiêu tái cơ cấu danh mục nguồn cung năng lượng theo nguyên tắc “không phụ thuộc quá mức vào một hành lang địa chính trị”. Điều này bao gồm:
(i) Đa dạng hóa dầu thô và nhiên liệu tinh chế từ Trung Đông sang nhiều nguồn hơn;
(ii) Phát triển hợp đồng khung với các nhà cung cấp ngoài vùng xung đột;
(iii) Tăng vai trò của các đối tác Đông Bắc Á, Nam Á, châu Phi khi cần;
(iv) Thiết kế cơ chế tài chính để doanh nghiệp đầu mối có khả năng xoay nguồn nhanh trong khủng hoảng.
Nhóm 3: Nâng quy mô và chất lượng dự trữ chiến lược.
Khủng hoảng hiện nay cho thấy dự trữ không thể là khái niệm tượng trưng. Dự trữ phải đủ lớn để tạo thời gian cho điều hành chính sách. Hiện nay Việt Nam đã có kế hoạch tăng dự trữ dầu quốc gia và yêu cầu hệ thống ngân hàng hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp nhập khẩu nhiên liệu. Đó là hướng đúng, nhưng cần đi xa hơn: phải xây dựng chuẩn dự trữ tối thiểu cho dầu thô, xăng dầu thành phẩm, nhiên liệu hàng không và một số đầu vào chiến lược khác.
Nhóm 4: Đẩy nhanh chuyển dịch năng lượng như một chiến lược an ninh quốc gia.
Xung đột hiện nay cho thấy năng lượng tái tạo không chỉ là câu chuyện khí hậu, mà còn là câu chuyện chủ quyền chính sách. Càng phụ thuộc nặng vào nhiên liệu nhập khẩu đi qua các điểm nghẽn địa chính trị, một nền kinh tế càng dễ bị bất ổn.
Việc Việt Nam đẩy nhanh sử dụng các nhiên liệu xanh là một bước đi trước mắt, nhưng chiến lược lớn hơn phải là tăng tốc điện tái tạo, lưu trữ điện, hạ tầng truyền tải, điện khí linh hoạt, phương tiện ít phụ thuộc xăng dầu và hệ sinh thái năng lượng phân tán.
Nhóm 5: Bảo vệ ổn định vĩ mô bằng cách điều hành linh hoạt hơn.
Khi giá dầu tăng, phản xạ tự nhiên là lo lạm phát. Nhưng trong một nền kinh tế mở như Việt Nam, điều hành không thể chỉ có một mục tiêu. Cần chấp nhận tư duy “ổn định vĩ mô linh hoạt”: kiểm soát kỳ vọng lạm phát, nhưng tránh siết quá mức làm giảm tăng trưởng; giữ ổn định tỷ giá, nhưng không duy ý chí; hỗ trợ đúng đối tượng chịu ảnh hưởng nặng. Điều cốt lõi là phải có mục tiêu kép: vừa giữ ổn định, vừa giữ sức sống của khu vực sản xuất - logistics - dịch vụ.
Nhóm 6: Xây dựng ngoại giao năng lượng và logistics chủ động hơn.
Trong bối cảnh này, ngoại giao kinh tế phải được triển khai như một công cụ an ninh quốc gia. Những động thái của Việt Nam nhằm tìm thêm nguồn dầu, nhiên liệu bay từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Brunei, Ấn Độ hay các đối tác khác là cần thiết. Nhưng về lâu dài, Việt Nam cần có các cơ chế hợp tác song phương và tiểu đa phương về:
(i) Bảo đảm nguồn cung nhiên liệu khẩn cấp;
(ii) Hợp tác dự trữ;
(iii) Hỗ trợ tàu chở hàng và nhiên liệu khi đổi tuyến;
(iv) Chia sẻ thông tin thị trường;
(v) Cơ chế ưu tiên cho một số mặt hàng chiến lược khi khủng hoảng nổ ra.
Nhóm 7: Nâng cấp năng lực bảo hộ công dân và truyền thông khủng hoảng.
Khủng hoảng Trung Đông hiện nay cho thấy Bộ Ngoại giao đã sớm phát đi cảnh báo đi lại và theo dõi sát tình hình công dân. Bước tiếp theo là chuẩn hóa quy trình số hóa đăng ký công dân tại vùng rủi ro, xây dựng hệ thống nhắn tin khẩn cấp đa nền tảng, diễn tập sơ tán theo kịch bản và gắn bảo hộ công dân với công tác thông tin chiến lược để tránh tin giả, tin đồn, hoang mang thị trường.
Việt Nam phải chuyển từ “quản lý tác động” sang “thiết kế sức chống chịu”
Trong nhiều năm qua, Việt Nam quen với một môi trường quốc tế mà thách thức lớn nhất là cạnh tranh thương mại, lãi suất toàn cầu hay suy yếu cầu bên ngoài. Nhưng thế giới hiện nay đã bước sang một pha khác: địa chính trị trực tiếp trở thành biến số kinh tế vĩ mô.
Một đòn đánh vào hạ tầng dầu khí ở Trung Đông có thể làm thay đổi lịch bay ở Việt Nam. Một tuyên bố liên quan eo biển Hormuz có thể làm khó bài toán tỷ giá ở Hà Nội. Một chuỗi leo thang quân sự giữa ba chủ thể có thể buộc doanh nghiệp Việt Nam trả lãi vay cao hơn, mua nhiên liệu đắt hơn, vận chuyển chậm hơn và bán hàng khó hơn.
Đó chính là ý nghĩa thực sự của khái niệm “chi phí ngoại tác chiến lược”. Nó nhắc chúng ta rằng trong thế kỷ 21, không có đường biên cứng giữa “chiến tranh của người khác” và “ổn định của mình”. Nếu nền kinh tế đủ mở, nếu chuỗi cung ứng đủ dài, nếu năng lượng đủ phụ thuộc, nếu vận tải đủ toàn cầu hóa, thì chiến tranh ở xa sẽ luôn tìm được một con đường để bước vào đời sống trong nước.
Với Việt Nam, điều này không đồng nghĩa với bi quan. Ngược lại, nó đặt ra một hướng đi rõ ràng. Việt Nam không thể kiểm soát cuộc chiến giữa Mỹ - Israel với Iran, nhưng Việt Nam có thể kiểm soát cách mình chuẩn bị cho một thế giới mà những cú sốc như vậy sẽ còn lặp lại.
Câu hỏi không còn là “làm sao tránh hoàn toàn tác động”, vì điều đó là không thể. Câu hỏi đúng hơn là: làm sao để mỗi cú sốc địa chính trị đi qua, Việt Nam tổn thương ít hơn, phục hồi nhanh hơn và mạnh hơn về cấu trúc?
Muốn vậy, phải coi an ninh năng lượng là an ninh quốc gia; phải coi dự trữ chiến lược là hạ tầng của chủ quyền; phải coi ngoại giao kinh tế là công cụ chống sốc; và phải coi năng lực điều hành liên ngành là một phần của sức mạnh quốc gia trong thời đại bất ổn.
Nếu làm được điều đó, Việt Nam không chỉ ứng phó tốt hơn với cú sốc hiện tại. Việt Nam còn đặt nền móng cho một năng lực quý hơn nhiều: năng lực sống sót và phát triển trong một thế giới mà bất ổn địa chính trị đã trở thành trạng thái bình thường mới.
(*) Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG TPHCM
ThS. Huỳnh Hồ Đại Nghĩa (*)
7 giờ trước
1 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
9 ngày trước
1 phút trước
25 phút trước
Vừa xong
1 phút trước
4 phút trước
12 phút trước
24 phút trước
32 phút trước