🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Việt Nam triển khai 5G nhanh top đầu thế giới

12 giờ trước
Tính đến đầu năm 2026, các doanh nghiệp viễn thông trong nước đã lắp đặt thành công hơn 40.000 trạm 5G, giúp phủ sóng xấp xỉ 92% dân số. Việt Nam không nằm trong nhóm các quốc gia triển khai 5G sớm nhất nhưng tốc độ triển khai nhanh top đầu thế giới.

Mạng 5G đã phủ sóng xấp xỉ 92% dân số

Ông Nguyễn Anh Cương, Phó Cục trưởng Cục Viễn thông, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, việc nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa 5G tại Việt Nam đã ghi nhận những bước tiến quan trọng. Tính đến đầu năm 2026, các doanh nghiệp viễn thông trong nước đã lắp đặt thành công hơn 40.000 trạm 5G, giúp phủ sóng xấp xỉ 92% dân số.

Theo lãnh đạo Cục Viễn thông, Việt Nam không nằm trong nhóm các quốc gia triển khai 5G sớm nhất nhưng tốc độ triển khai "có thể nói nhanh tốp đầu thế giới". Thông thường, các nước mất khoảng 3 đến 5 năm để đạt tỷ lệ phủ sóng 90% dân số. Điều này thể hiện năng lực công nghệ, trình độ tối ưu và làm chủ mạng lưới của các doanh nghiệp viễn thông nội địa.

Việt Nam triển khai 5G nhanh top đầu thế giới. Ảnh minh họa: Chat GPT

Bên cạnh hạ tầng mạng, Việt Nam cũng đạt bước tiến lớn trong sản xuất thiết bị. Ông Nguyễn Anh Cương thông tin, trong tổng số hơn 40.000 trạm 5G đang hoạt động, có khoảng 2.500 trạm do doanh nghiệp trong nước tự nghiên cứu và sản xuất theo chuẩn quốc tế, chiếm khoảng 6%. Các nhà mạng đang đặt mục tiêu tiếp tục gia tăng tỷ lệ thiết bị nội địa hóa này trên toàn hệ thống.

Phân tích về định hướng phát triển mạng 6G, đại diện Cục Viễn thông nhấn mạnh công nghệ viễn thông có tính chất đặc thù, đòi hỏi sự đồng thuận và thống nhất trên phạm vi toàn cầu để mạng lưới vận hành xuyên suốt. Quá trình nghiên cứu và chuẩn hóa 6G được thực hiện thông qua các tổ chức quốc tế như Liên minh Viễn thông Thế giới ITU và 3GPP.

Để chủ động đón đầu, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thành lập Ban chỉ đạo 6G, gồm các cơ quan quản lý về viễn thông, tần số, doanh nghiệp công nghệ và trường đại học nhằm chủ động nghiên cứu công nghệ mạng 6G; tạo điều kiện để các doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và nghiên cứu tiếp cận công nghệ 6G ngay từ sớm, cùng tham gia nghiên cứu, đóng góp vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn 6G, chủ động lựa chọn phương án triển khai phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Đánh giá về khả năng làm chủ công nghệ mới, ông Cương cho biết: Trước đây, Việt Nam mất hơn 8 năm từ khi 4G được chuẩn hóa để sản xuất và làm chủ được thiết bị. Đến 5G, thời gian này đã rút ngắn xuống còn gần 2 năm. Với nền tảng tích lũy từ hai thế hệ mạng trước kỳ vọng sẽ tiếp tục rút ngắn thời gian nghiên cứu và làm chủ công nghệ 6G trong thời gian sớm nhất khi công nghệ này chính thức triển khai.

Trong thời gian qua, lĩnh vực viễn thông tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Hiện tốc độ băng rộng di động của Việt Nam đạt 210,85 Mbps, xếp thứ 9 thế giới; tỷ lệ sử dụng IPv6 đạt 67%, đứng thứ 2 Đông Nam Á.

100 ngày xử lý quyết liệt các điểm nghẽn chuyển đổi số

Bộ KH&CN cho biết đã hoàn thiện cơ chế hoạt động của Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia; triển khai kế hoạch thực hiện kết luận của Tổng Bí thư về nghiên cứu khoa học cơ bản; ban hành quy định về trình tự, thủ tục xây dựng và thẩm định nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược.

Đến nay, Bộ đã tiếp nhận 31 hồ sơ nhiệm vụ công nghệ chiến lược với tổng kinh phí dự kiến gần 9.700 tỷ đồng, từng bước hình thành cơ chế đặt hàng các nhiệm vụ nghiên cứu quy mô lớn phục vụ phát triển đất nước.

Hoạt động đổi mới sáng tạo tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Bộ KH&CN đã cấp 6 giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ với tổng giá trị hợp đồng hơn 2.039 tỷ đồng; Việt Nam tăng 5 bậc, xếp thứ 50 thế giới theo Chỉ số Hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu năm 2026; cả nước có 964 doanh nghiệp khoa học và công nghệ cùng 46 tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Bộ đồng thời hoàn thiện cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và phát triển thị trường khoa học và công nghệ.

Chuyển đổi số tiếp tục là điểm sáng với hơn 4,6 tỷ giao dịch qua Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP), 32,5 triệu chứng thư chữ ký số được cấp. Bộ đã hoàn thiện các quy định hướng dẫn thi hành Luật Chuyển đổi số, trình Chiến lược chuyển đổi số quốc gia và ban hành các quy định về quản lý đầu tư, quản lý chất lượng và triển khai mô hình thử nghiệm có kiểm soát, tạo nền tảng thúc đẩy Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

Lĩnh vực bưu chính, viễn thông và công nghiệp công nghệ số tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Doanh thu dịch vụ bưu chính ước đạt khoảng 9.000 tỷ đồng, sản lượng khoảng 430 triệu bưu gửi; tốc độ băng rộng di động đạt 210,85 Mbps, xếp thứ 9 thế giới; tỷ lệ sử dụng IPv6 đạt 67%, đứng thứ 2 Đông Nam Á.

Công nghiệp công nghệ số đạt doanh thu khoảng 662.724 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu phần cứng, điện tử đạt khoảng 21,5 tỷ USD; cả nước có hơn 81.600 doanh nghiệp công nghệ số. Bộ tiếp tục hoàn thiện Chiến lược phát triển trí tuệ nhân tạo quốc gia, nghiên cứu cơ chế phát triển tài sản số và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam.

Các lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng, sở hữu trí tuệ và năng lượng nguyên tử tiếp tục được triển khai đồng bộ. Bộ trình Quốc hội dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường; hoàn thiện các quy định về quản lý chất lượng hàng hóa theo mức độ rủi ro; tiếp nhận hơn 18.000 đơn đăng ký sở hữu công nghiệp, cấp hơn 10.000 văn bằng bảo hộ; đồng thời tiếp tục hoàn thiện các chính sách về an toàn bức xạ, an toàn và an ninh hạt nhân, tăng cường hợp tác với Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) để chuẩn bị các điều kiện phát triển điện hạt nhân trong giai đoạn mới.

Thời gian tới, Bộ KH&CN sẽ tập trung hoàn thiện các đề án, dự án luật và văn bản quy phạm pháp luật theo Chương trình công tác của Chính phủ; đẩy nhanh triển khai các nhiệm vụ về công nghệ chiến lược; hoàn thiện cơ chế quản lý, cơ chế tài chính và tổ chức thẩm định các nhiệm vụ nghiên cứu; hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương xác định các bài toán lớn để hình thành những sản phẩm công nghệ chiến lược của Việt Nam.

Đồng thời, Bộ tiếp tục phát triển thị trường khoa học và công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo; triển khai Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương năm 2026; hoàn thiện Cổng Sáng kiến KH,CN,ĐMST&CĐS và thực hiện quyết liệt Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị, góp phần tạo động lực mới cho tăng trưởng và phát triển bền vững.

Tô Hội

TIN LIÊN QUAN



























Home Icon VỀ TRANG CHỦ