Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó
Hơn 40 năm trôi qua, chúng tôi mới có dịp trở lại vùng chiến tuyến năm xưa - nơi từng được khắc ghi bằng câu nói: “Sống bám đá đánh giặc, chết hóa đá bất tử”.
Ngày trở lại, nơi đây vẫn đông người đến dâng hương, dâng hoa tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ. Ký ức của những người lính binh nhì tuổi đôi mươi năm nào vẫn còn nguyên vẹn: hình ảnh chiến đấu kiên cường, anh dũng của quân và dân nơi tuyến đầu Tổ quốc; những tiếng gọi “Mẹ ơi!” trong khoảnh khắc sinh tử; những cái nắm tay thật chặt của đồng đội trước lúc hy sinh - tất cả vẫn in sâu, không thể phai mờ.

Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.
Đi là để chiến đấu
Ngày ấy, khi “tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới”, cũng như bao thanh niên tuổi đôi mươi trên mọi miền đất nước, chúng tôi háo hức lên đường thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Tháng 7-1984, chúng tôi nhập ngũ. Sau một tuần nghỉ chân, huấn luyện tại Thanh Hóa, đơn vị hành quân thẳng đến vùng biên cương phía Bắc. Đặt chân lên mặt trận Vị Xuyên, chúng tôi hiểu rằng mình đang có mặt tại một trong những chiến trường nóng bỏng, ác liệt nhất trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tổ quốc.
Những chàng trai làng biển lần đầu xa cha mẹ, xa quê hương, còn nhiều bỡ ngỡ, nay đứng trước vùng đất phên giậu của Tổ quốc với điệp trùng núi đá tai mèo, ngày đêm hứng mình trong bão đạn của kẻ thù mà không hề dao động. Chính tại vùng đất tiền tiêu ấy, từng tấc đất, hốc đá, ngọn cỏ đều thấm đẫm máu xương của biết bao cán bộ, chiến sĩ. Tình yêu thương đồng đội như ngọn lửa được nhen nhóm, rồi bùng cháy mãnh liệt trong trái tim những người lính trẻ lần đầu cầm súng chiến đấu.
Vị Xuyên hôm nay - nơi chúng tôi trở lại để “tìm về ký ức tuổi đôi mươi” - đã có nhiều đổi thay. Cảnh vật, cuộc sống của người dân nơi đây khác xa so với những năm tháng chiến tranh. Thế nhưng, ký ức của những người “tân binh - thuở binh nhì” vẫn ùa về đầy xúc động. Từng tên đất, tên làng, từng kỷ niệm của một thời áo lính lần lượt hiện lên trong tâm trí chúng tôi.
Vùng đồi núi bên con suối Bạc, cách thị xã Tuyên Quang (tỉnh Hà Tuyên lúc bấy giờ) khoảng 5 km, được đơn vị chúng tôi chọn làm nơi dừng chân huấn luyện. Hai bên đường, những bông lau nở trắng. Mỗi buổi chiều xuống hay sáng sớm, những đám mây trắng sà thấp, lững lờ neo đậu giữa lưng chừng núi cao. Đêm về, tiếng gió rít, tiếng xoáy của những cơn gió “mồ côi”, tiếng vọng của suối đá hòa cùng những cơn mưa lạnh khiến những người lính trẻ nhiều đêm không ngủ. Xa nhà, nhớ cha mẹ, nhớ bạn bè, những chàng trai tuổi đôi mươi đã từng ôm nhau khóc trong những ngày đầu quân ngũ.

Nén hương lòng gửi về tri ân các anh hùng liệt sĩ ở Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.
Chưa hết 3 tháng huấn luyện, nhưng đơn vị lại cơ động lên vùng rừng cọ thuộc vùng đất Phương Thiện (nay thuộc phường Hà Giang, tỉnh Tuyên Quang). Ở đây đường chim bay lên vùng biên giới chừng 13-15 km, ngày đêm nghe rõ từng tiếng pháo nổ. Thông tin về chiến trường, về sự ác liệt của cuộc chiến và tội ác của quân xâm lược được nghe từ cán bộ đại đội, cán bộ tuyên huấn truyền đạt lại, đi cùng là những buổi đăng ký thi đua “Quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Trong thời gian ngắn huấn luyện để thích nghi, ấn tượng nhất của cánh lính trẻ lúc đó là được xem những bộ phim chiến đấu, nhất là ca khúc “Có một bài ca không bao giờ quên” - bài hát đã tiếp thêm niềm tin và ý chí cho biết bao người lính.
Một tối cuối tuần, khi đơn vị đang sinh hoạt thì nhận được lệnh báo động: “Cơ động chiến đấu”. Ba hồi còi vang lên. Chỉ sau 20 phút, đội hình đơn vị đã chỉnh tề, súng đạn, trang bị và phương tiện đầy đủ. Chúng tôi hiểu rằng: Đi là để chiến đấu, để bảo vệ Tổ quốc. Điều gì đến rồi cũng sẽ đến. Dù đã biết trước ngày phải trực tiếp bước vào chiến trường, nhưng giây phút hành quân lên biên giới vẫn khiến mỗi người không khỏi hồi hộp, lo lắng và xúc động. Nhiều đồng đội tranh thủ viết vội vài dòng gửi lại gia đình: “Ba mẹ ơi, anh chị ơi! Con đã lên biên giới rồi. Chúc gia đình luôn bình an, mạnh khỏe”. Những lá thư ấy sau đó được gửi nhờ qua bà con nơi các bản làng mà đơn vị đi qua, mang theo tình yêu thương, nỗi nhớ và lời chào của những người lính trẻ trước giờ ra trận.

Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ trên điểm cao 468 - Vị Xuyên.
Vị Xuyên mãi mãi trường tồn
Đêm ấy, giữa núi rừng biên giới cheo leo, những dãy núi đá tai mèo dựng đứng chìm trong bóng tối. Đội hình chúng tôi vượt qua Thanh Thủy, qua hang Dơi, đến làng Mè thì trời vừa sáng. Đại đội dừng lại, tạm ẩn trú để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ.
Sau một tuần làm nhiệm vụ vận chuyển đạn dược lên tuyến trước, đưa thương binh, tử sĩ về tuyến sau, chúng tôi đã dần quen với tiếng rít, tiếng nổ của đạn pháo và nhịp sống khắc nghiệt nơi chiến trường. Những người lính trẻ bắt đầu mang ba lô cơ động qua những địa danh mà chỉ nghe tên đã thấy ám ảnh: “Thác Âm phủ”, “Thung lũng gọi hồn”, “Ngã ba cửa tử”, “Đồi đài quan sát”. Rồi chúng tôi tiếp tục trèo qua ba chiếc thang dây, mỗi chiếc dài từ 20 đến 40 mét, để lên chốt chiến đấu tại điểm cao 673 - Vị Xuyên.
Ở nơi ấy, thời gian dường như chưa bao giờ có phút giây yên lặng. Những điểm cao 1509, 685, 673, 468 và bình độ 400… ngày đêm oằn mình trong đạn pháo, khói lửa. Những cánh rừng, những cây xanh từng trải qua hàng trăm năm trên núi đá tai mèo nay trở nên xác xơ, biến dạng. Thứ còn lại trên những đỉnh núi chỉ là một màu trắng lạnh lẽo của đá, của bụi đá được tạo nên bởi sự tàn khốc của chiến tranh.
Tuy nhiên, đạn pháo của kẻ thù không thể khuất phục được ý chí của những người lính nơi đây. Ngược lại, chính trong lửa đạn, tinh thần chiến đấu bảo vệ từng tấc đất biên cương càng trở nên mạnh mẽ hơn. Đó là tình đồng chí, đồng đội, là tình yêu quê hương đất nước, là khát vọng cháy bỏng về một ngày hòa bình trở lại.
Giữa khói lửa chiến tranh, trong lòng mỗi người lính vẫn luôn hiện hữu hình bóng quê nhà: làng biển mặn mòi, con sông nhỏ, con đường làng cát trắng, lời mẹ dặn trước lúc lên đường, hình ảnh người thân, bạn bè, mái trường thân yêu… Tất cả trở thành nỗi nhớ trong trẻo, thiêng liêng, là nguồn động viên để chúng tôi vượt qua những ngày tháng gian khổ nhất.
Suốt những năm tháng chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ ở Vị Xuyên nói chung và cán bộ, chiến sĩ Đại đội 7 (Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 881, Sư đoàn 314, Quân khu 2) nói riêng đã kiên cường, mưu trí, dũng cảm giữ vững từng mỏm đá, từng vách núi, từng điểm cao với lời thề: “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.
Hơn 40 năm đã trôi qua, nhưng tôi chưa bao giờ quên hình ảnh những người đồng đội trước lúc hy sinh. Làm sao quên được tiếng gọi “Mẹ ơi!” nghẹn ngào trong khoảnh khắc cuối cùng? Làm sao quên được những giọt nước mắt, những cái bắt tay siết chặt như lời chào vĩnh biệt giữa những người lính đã cùng nhau đi qua sinh tử?
Nắng mưa không thể ngăn bước chân người lính. Mỗi cung đường đã đi qua, mỗi bản làng, mỗi dòng sông, con suối, mỗi điểm dừng chân huấn luyện hay chốt giữ chiến đấu đều in đậm dấu chân chúng tôi. Tình cảm của đồng bào dành cho bộ đội nơi biên giới năm ấy vẫn luôn là ký ức không thể nào quên. Đó là những tháng ngày được đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của những người lính Vị Xuyên.
Tôi cùng những người đồng đội may mắn trở về với gia đình, với cuộc sống đời thường. Nhưng vẫn còn biết bao đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường xưa. Hài cốt của các anh có người vẫn còn ở đâu đó giữa vách núi, khe đá, chưa thể trở về sum họp cùng gia đình, đồng đội.
Tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên hôm nay, hơn 1.860 liệt sĩ vẫn nằm trong đội hình “quân ngũ chỉnh tề, quân dung tươi tỉnh”. Tên tuổi các anh sống mãi cùng non sông đất nước, cùng sự trường tồn của dân tộc.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dân tộc ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Thành cổ Quảng Trị đã ghi dấu tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Và, trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, quân và dân ta lại viết tiếp trang sử hào hùng bằng ý chí: “Sống bám đá đánh giặc, chết hóa đá bất tử”. Đó là những vùng đất thiêng, những địa danh lịch sử luôn nhắc nhớ các thế hệ hôm nay và mai sau về sự hy sinh cao cả của các anh hùng liệt sĩ, về giá trị của hòa bình và độc lập.

Về với anh em đồng đội tại Vị Xuyên.
Trước ngày trở lại chiến trường xưa, thăm lại đồng đội ở Vị Xuyên, tôi đã chuẩn bị một số lễ vật truyền thống: hương, đèn, giấy áo, rượu, hoa, quả… Nhưng khi gần đến nơi, một ký ức bất chợt ùa về: Ngày trước, những người đồng đội của tôi vẫn thường nói với nhau “cho tau một khói”. Tôi chợt nhận ra mình còn thiếu món quà giản dị ấy nên đã mua thêm những gói thuốc -thứ mà ngày xưa anh em lính trẻ vẫn chia sẻ với nhau giữa những giờ phút căng thẳng nơi chiến trường.
Sau khi dâng hương tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên, chúng tôi tiếp tục ngược lên Cửa khẩu Thanh Thủy, đến Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại điểm cao 468, trên sườn núi Nậm Ngặt. Hơn 40 năm trước, nơi đây từng là một trong những chiến trường ác liệt nhất trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tổ quốc.
Cùng những đồng đội từng trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu trở lại chiến trường xưa, chúng tôi lặng lẽ thắp những nén hương thơm, lau từng phần mộ của đồng đội. Trong làn khói hương bảng lảng trên những hàng mộ nối dài, ai cũng nghẹn ngào xúc động khi nhớ về một thời tuổi trẻ hào hùng, xen lẫn những mất mát, đau thương của cuộc chiến giữ nước.
Với Vị Xuyên: Huân chương được đúc từ bụi đá/ Đất biên cương thành trang ghi tội ác kẻ thù/ Lịch sử mấy ngàn năm giữ nước/ Đã thêm trang Vị Xuyên đánh cho quân xâm lược quay đầu...
Làm sao quên được những cơn mưa rừng như trút nước? Ba anh em chúng tôi từng co ro trong một hang đá nhỏ, chỉ biết ôm chặt ba lô để giữ hơi ấm, tránh cái lạnh và nước mưa. Bên ngoài, tiếng đạn pháo nổ vang rền ngày đêm không dứt. Những bữa cơm khô, cơm mốc, cá chuồn muối để lâu ngày, những lần dùng mỡ hóa học thay cho dầu mỡ thông thường, những ngày thay nhau tụt thang xuống vực sâu lấy nước… tất cả đã trở thành ký ức không thể nào quên.
Ở chiến trường khi ấy, dường như đã thành quy luật: Khoảng 8 giờ 30 phút mỗi ngày, tiếng pháo của địch tạm ngừng đến khoảng 9 giờ 30 phút. Khoảng thời gian ngắn ngủi ấy được anh em gọi vui là “giờ hòa bình trong chiến tranh”.
Đó cũng là lúc những người lính trẻ viết thư về nhà, gửi gắm nỗi nhớ quê hương, nhớ cha mẹ, bạn bè và cả những rung động đầu đời. Có những nỗi nhớ tưởng như không thể nói thành lời, chỉ biết gửi lại trong từng trang giấy giữa chiến trường khốc liệt.
Thời gian đã đi qua rất lâu, nhưng “ký ức binh nhì tuổi đôi mươi” của những người lính Vị Xuyên chúng tôi - nay đã ở tuổi U70 - vẫn vẹn nguyên như ngày đầu ra trận.

Đỉnh 685 Vị Xuyên màu xanh đã trở lại.
Hôm nay, cây lá trên vùng đất Vị Xuyên đã xanh tươi trở lại. Dòng sông Lô vẫn hiền hòa chảy qua những miền quê. Nhưng dấu tích của cuộc chiến bảo vệ biên giới thiêng liêng, những mất mát hy sinh để giữ từng tấc đất, từng mỏm đá của hàng nghìn liệt sĩ vẫn còn đó.
Những chứng tích hào hùng và bi thương ấy mãi nhắc nhở mỗi người dân Việt Nam về chủ quyền biên giới, về cương vực lãnh thổ mà cha ông đã gìn giữ qua hàng nghìn năm lịch sử.
LÊ QUANG HỒI
2 ngày trước
2 ngày trước
3 giờ trước
4 giờ trước
9 phút trước
7 phút trước
Vừa xong
6 phút trước
6 phút trước
8 phút trước
9 phút trước
9 phút trước
9 phút trước
12 phút trước
15 phút trước
17 phút trước