Vì sao oanh tạc cơ B-17 hùng mạnh vẫn cần tiêm kích hộ tống trên bầu trời nước Đức?

Trong năm 1943, điểm yếu lớn nhất của oanh tạc cơ B-17 không nằm ở số lượng súng máy hay độ bền kết cấu.

Vấn đề là những chiếc tiêm kích hộ tống chưa đủ tầm bay để bảo vệ đội hình trong toàn bộ hành trình. Khi B-17 tiến sâu vào nước Đức, các tiêm kích Mỹ phải quay về, để oanh tạc cơ tiếp tục hành trình một mình.

Đây chính là khoảng thời gian không quân Đức tận dụng để tổ chức những đợt đánh chặn quy mô lớn.

P-47 Thunderbolt là một trong những loại tiêm kích đầu tiên đảm nhận nhiệm vụ hộ tống chiếc oanh tạc cơ B-17, từ tháng 5/1943.

Tuy nhiên, những chiếc P-47 ban đầu chưa đủ tầm bay để hộ tống B-17 tới các mục tiêu sâu trong nước Đức rồi quay trở lại Anh. Ngày 13/6/1943, 60 B-17 đánh Kiel. Khi P-47 phải quay đầu, không quân Đức lập tức tấn công và 22 chiếc B-17 bị bắn hạ.

P-38 Lightning cũng được đưa vào nhiệm vụ hộ tống tầm xa. Thiết kế 2 động cơ cho phép P-38 thực hiện những chuyến bay dài, nhưng vấn đề không chỉ nằm ở tầm bay.

Tiêm kích hộ tống phải có tốc độ, khả năng hoạt động ở độ cao lớn và đủ thời gian ở lại khu vực mục tiêu để đối phó với lực lượng đánh chặn Đức. Trong nửa cuối năm 1943, Mỹ vì thế tiếp tục tìm kiếm một giải pháp hiệu quả hơn.

Bước ngoặt đến với P-51 Mustang. Những chiếc P-51B đầu tiên được đưa vào chiến đấu tại châu Âu cuối năm 1943. Thiết kế khí động học hiệu quả cùng động cơ mạnh giúp P-51 có tốc độ và tầm bay phù hợp với nhiệm vụ hộ tống.

Quan trọng hơn, các thùng nhiên liệu phụ có thể tháo rời giúp mở rộng đáng kể bán kính hoạt động. Theo Air & Space Forces Magazine, khi P-51B gia nhập Eighth Air Force, bán kính hộ tống tăng từ khoảng 320 lên 650 dặm; với 2 thùng dầu phụ 108 gallon, con số này tiếp tục tăng lên khoảng 750-850 dặm.

Đây là thay đổi mang tính hệ thống. Trước đó, B-17 phải dựa vào Combat Box và hàng loạt súng máy để chống lại tiêm kích Đức trong phần lớn hành trình.

Sau khi P-51 có đủ tầm bay, những chiếc tiêm kích Mỹ có thể ở cùng đội hình oanh tạc cơ trong những khu vực mà trước đây không quân Đức gần như có thể tự do lựa chọn thời điểm tấn công.

Chiến thuật của tiêm kích hộ tống cũng thay đổi. Thay vì chỉ bay sát B-17 để phản ứng khi tiêm kích Đức xuất hiện, các đơn vị P-51 dần được sử dụng chủ động hơn.

Chúng có thể bay phía trước đội hình, tìm kiếm và đánh chặn tiêm kích Đức trước khi những máy bay này tiếp cận oanh tạc cơ. Đến cuối tháng 1/1944, một số đội hình tiêm kích Mỹ đã vươn xa hàng chục dặm phía trước đội hình oanh tạc cơ để tìm mục tiêu Đức.

Chiến dịch Operation Argument, thường được gọi là “Big Week”, từ ngày 20 đến 25/2/1944 cho thấy sự thay đổi rõ rệt. USAAF thực hiện gần 4.000 phi vụ oanh tạc cơ hạng nặng nhằm vào ngành công nghiệp hàng không Đức.

Lúc này, tiêm kích Mỹ đã đủ tầm bay để hộ tống oanh tạc cơ tới mục tiêu, khiến không quân Đức phải đối mặt với một bài toán hoàn toàn khác.

Điều quan trọng không phải B-17 đột nhiên trở nên khó bị bắn hạ. Các oanh tạc cơ vẫn chịu tổn thất. Nhưng không quân Đức không còn dễ dàng chờ đến lúc B-17 vượt khỏi phạm vi hộ tống rồi tung toàn bộ lực lượng vào đội hình như năm 1943.

Tiêm kích Đức giờ đây phải tính đến nguy cơ bị P-51, P-47 và P-38 đánh chặn trước khi tiếp cận “Pháo đài bay”.

Vì vậy, bước ngoặt không nằm ở một chiếc máy bay đơn lẻ. B-17 mang bom tới mục tiêu, Combat Box tập trung hỏa lực phòng thủ, còn tiêm kích hộ tống kiểm soát không phận xung quanh.

Khi 3 thành phần này phối hợp, chiến dịch ném bom ban ngày của Mỹ trở thành một hệ thống tác chiến hoàn chỉnh hơn nhiều so với những đội hình B-17 hoạt động đơn độc năm 1943.

B-17 + P-51 vì thế trở thành một trong những tổ hợp tiêu biểu nhất của cuộc chiến trên không châu Âu. “Pháo đài bay” vẫn là lực lượng mang bom, nhưng chính những “Little Friends” đã giúp nó có thể tiến sâu hơn vào nước Đức và duy trì sức ép liên tục lên không quân Đức.
Việt Hùng
3 ngày trước
4 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước