🔍
Chuyên mục: Thế giới

Vì sao đồng minh của Mỹ thận trọng về điều tàu chiến đến eo biển Hormuz?

2 giờ trước
Tại eo biển Hormuz, hoạt động hàng hải đang bị gián đoạn và Tổng thống Mỹ Donald Trump đang kêu gọi và gây sức ép buộc các quốc gia đồng minh và các quốc gia khác phải hỗ trợ nhằm đảm bảo an ninh tuyến đường này.
00:00
00:00

Nhưng trên thực tế, nhiều đồng minh của Mỹ tại châu Á và châu Âu đã thẳng thừng tuyên bố họ không có ý định cử chiến hạm hộ tống tàu dầu đi qua eo biển Hormuz như đề xuất từ Tổng thống Trump.

Eo biển Hormuz nhìn từ trên cao. Ảnh: Reuters.

Nhật Bản thấy “rất khó về mặt pháp lý”

Thái độ thận trọng của Nhật Bản trước kêu gọi của Tổng thống Donald Trump đúng là có cơ sở pháp lý. Việc Nhật Bản cử Lực lượng phòng vệ ra nước ngoài rất dễ vi phạm một cấm kỵ rất lớn được ghi rõ trong Hiến pháp Nhật Bản, với quy định Nhật Bản không có quyền tổ chức chiến tranh hoặc cùng nước khác tham gia chiến tranh. Theo những quy chiếu từ Hiến pháp, Nhật Bản có nhiều đạo luật khác trói buộc việc điều động sức mạnh quân sự ra nước ngoài. Ngay cả quyền ban bố lệnh “hành động cảnh giới trên biển” cũng có nhiều ràng buộc, mặc dù lệnh này nằm trong quyền hạn của Bộ trưởng Quốc phòng và chỉ cần sự thừa nhận của Thủ tướng là có thể ban bố. Lệnh này là nhằm bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của người dân Nhật Bản, trị an trên biển và không bị hạn chế về không gian địa lý.

Tuy nhiên, tính đến nay, Nhật Bản mới chỉ ban bố lệnh này có 3 lần. Lần thứ nhất là năm 1999 khi một tàu công tác của Triều Tiên đi vào vùng biển gần bán đảo Noto, lần thứ 2 là năm 2004 khi một tàu ngầm nước ngoài đi vào vùng biển phía Nam Nhật Bản và lần cuối cùng là năm 2009 nhằm tham gia chống hải tặc ở Somali. Bên cạnh đó còn có một lý do khá tế nghị. Là một đồng minh của Mỹ, Nhật Bản phải giữ một thái độ mềm dẻo, thế nhưng, ngay trong nội bộ giới chính trị Nhật Bản cũng có nhiều ý kiến phản đối cuộc tấn công của Mỹ và Israel. Nhiều nghị sỹ Nhật Bản đã từng nhấn mạnh “Về mặt nguyên tắc, việc sử dụng vũ lực để tấn công một quốc gia có chủ quyền là vi phạm luật pháp quốc tế”. Thậm chí còn có chính trị gia kêu gọi “tuyệt đối không thể cho phép sự hoành hành bạo lực của Mỹ và Israel. Nhật Bản cần thể hiện rõ lập trường kiên quyết không hợp tác với mọi hình thức chiến tranh”. Trong bối cảnh đó, việc phái tàu quân sự đến Hormuz có nguy cơ sẽ gây nhiều bất ổn trong nội bộ Nhật Bản. Một vấn đề nữa là lợi ích. Đến thời điểm này, sự an toàn của các tàu bè Nhật Bản vẫn đang được bảo đảm, còn việc cử quân đi không những không có lợi mà còn dẫn tới nhiều thiệt hại, mà trước mắt là thiệt hại do phải mất một khoản kinh phí rất lớn cho hoạt động này. Theo tôi, một hành động mà chưa thấy lợi ích, chỉ thấy ảnh hưởng tiêu cực thì bất cứ một quốc gia nào cũng sẽ không làm!

Quan điểm của Anh, Đức là chung của cả EU và NATO?

Có thể nói, việc các đồng minh của Mỹ thận trọng khi cân nhắc điều tàu chiến đến eo biển Hormuz không chỉ là vấn đề về nguồn lực tài chính hay năng lực quân sự, mà còn phản ánh sự khác biệt sâu sắc về tư duy chiến lược và những rạn nứt trong quan hệ giữa các liên minh truyền thống.

Nguyên nhân gốc rễ của sự thận trọng này bắt nguồn từ sự khác biệt căn bản trong chính sách đối ngoại giữa các bên. Trong khi chính quyền Tổng thống Donald Trump lựa chọn chiến lược "Gây sức ép tối đa", đơn phương rút khỏi Thỏa thuận Hạt nhân Iran (JCPOA) và tái áp đặt các biện pháp trừng phạt, các đồng minh châu Âu như Anh, Pháp, Đức vẫn kiên định bảo vệ thỏa thuận này.

Nếu các đồng minh chấp nhận gửi tàu chiến tham gia liên minh do Mỹ dẫn dắt, điều này chẳng khác nào họ tự đặt mình vào thế đứng cùng một chiến tuyến với Washington. Đây không chỉ là đòn giáng mạnh vào những nỗ lực ngoại giao cuối cùng với Tehran mà còn đẩy các quốc gia này vào nguy cơ đối đầu trực diện với Iran, một kịch bản mà các nước châu Âu luôn tìm cách tránh nhằm bảo vệ an ninh khu vực.

Lịch sử các cuộc can thiệp quân sự tại Trung Đông đã để lại nhiều bài học đắt giá. Các đồng minh của Mỹ lo ngại rằng sự hiện diện dày đặc của các chiến hạm tại "thùng thuốc súng" Hormuz sẽ tạo ra một môi trường đặc biệt nhạy cảm, nơi chỉ một va chạm nhỏ hay hiểu lầm trên biển cũng có thể dẫn đến bùng phát xung đột quy mô lớn. Quan trọng hơn, các nước phương Tây đặt ra câu hỏi: liệu tàu chiến đến đây chỉ để hộ tống thương thuyền, hay sẵn sàng cho một cuộc tấn công? Nếu xung đột xảy ra, ai sẽ kiểm soát tình hình?

Vì vậy, tuyên bố của Berlin rằng đây "không phải cuộc chiến của NATO" là lời khẳng định mạnh mẽ việc họ từ chối bị cuốn vào một cuộc phiêu lưu quân sự không có lối thoát.

Phản ứng của Anh, Pháp và Đức còn thể hiện một xu hướng mới trong chiến lược của các đồng minh châu Âu: tách biệt với định hướng của Mỹ. Thay vì hoàn toàn nhập cuộc vào liên minh do Mỹ đứng đầu, các nước này đã bàn bạc về một sứ mệnh giám sát hàng hải thuần túy châu Âu. Điều này vừa khẳng định họ vẫn quan tâm tới an ninh hàng hải tại eo biển Hormuz, vừa thể hiện mong muốn giữ vai trò độc lập, không trở thành "cánh tay nối dài" cho mọi quyết định đơn phương từ Nhà Trắng.

Thái độ chừng mực của các đồng minh không phải là biểu hiện của sự yếu kém về quân sự, mà là kết quả của sự cân nhắc địa chính trị thận trọng. Họ chủ động tránh trở thành quân cờ trong chiến lược gây sức ép của Mỹ, nhằm bảo vệ các lợi ích cốt lõi như sự ổn định của khu vực Trung Đông, sự sống còn của thỏa thuận hạt nhân Iran và quyền tự chủ trong hoạch định chính sách đối ngoại.

Khủng hoảng năng lượng và lương thực

Vấn đề Hormuz đã chạm đúng vào "tử huyệt" trong bàn cờ địa chính trị giữa Mỹ, châu Âu và Iran. Đúng là châu Âu đang đứng trước bóng ma của một cuộc "khủng hoảng kép", nhưng chính nỗi sợ hãi đó lại là lý do khiến họ không thể nhắm mắt đi theo chiến lược của Washington. Sự ngần ngại của châu Âu xuất phát từ ba rào cản mang tính bản chất.

Đầu tiên, có sự lệch pha hoàn toàn về phương pháp tiếp cận giữa Mỹ và châu Âu: Mỹ coi việc khai thông eo biển Hormuz là một phần của chiến dịch quân sự răn đe, nhằm bóp nghẹt nền kinh tế Iran để buộc nước này quay lại bàn đàm phán với những điều kiện ngặt nghèo hơn. Ngược lại, châu Âu lại nhìn nhận đây là vấn đề an ninh hàng hải thuần túy. Họ hiểu rằng nếu tham gia vào liên minh do Mỹ dẫn dắt, họ sẽ bị "dán nhãn" là đồng lõa với chính sách "Gây sức ép tối đa". Điều này đồng nghĩa với việc tự tay bức tử Thỏa thuận Hạt nhân (JCPOA) mà họ đã dày công xây dựng. Với châu Âu, một Iran có thỏa thuận hạt nhân vẫn an toàn hơn một Iran bị dồn vào đường cùng và sẵn sàng phong tỏa eo biển vĩnh viễn.

Mặc dù lo ngại giá dầu tăng, song các cường quốc châu Âu như Pháp và Đức tỉnh táo nhận ra một nghịch lý: Sự hiện diện quân sự rầm rộ không bảo đảm an toàn cho các con tàu, mà trái lại, nó biến các con tàu thành mục tiêu. Eo biển Hormuz là một "nút thắt cổ chai" địa lý. Việc đưa thêm chiến hạm vào một không gian hẹp, nơi Iran sở hữu lợi thế sân nhà với tên lửa bờ biển và tàu cao tốc, chỉ làm tăng nguy cơ va chạm ngoài ý muốn. Một khi tiếng súng vang lên, giá dầu sẽ không chỉ "tăng mạnh" mà sẽ "nhảy vọt" phi mã, đẩy nền kinh tế châu Âu vào suy thoái trầm trọng hơn cả việc chịu đựng những gián đoạn nhỏ lẻ hiện tại.

Thêm vào đó, châu Âu đang nỗ lực khẳng định sự độc lập chiến lược để không còn là "cánh tay nối dài" của Nhà Trắng trong mọi cuộc phiêu lưu quân sự tại Trung Đông. Họ lo ngại rằng việc đặt quân đội dưới sự chỉ huy của Mỹ sẽ khiến họ bị cuốn vào một cuộc chiến mà họ không có quyền quyết định thời điểm bắt đầu hay kết thúc. Thay vì tham gia kế hoạch của ông Trump, châu Âu muốn thành lập một sứ mệnh giám sát độc lập. Mục đích là để gửi đi tín hiệu tới Tehran rằng "chúng tôi đến đây để bảo vệ thương mại, không phải để lật đổ chính quyền các bạn".

Sự ngần ngại của châu Âu không phải là thái độ thờ ơ trước khủng hoảng, mà là một sự lựa chọn đau đớn giữa hai rủi ro. Họ chọn đối đầu với sự gián đoạn hàng hải tạm thời còn hơn là mạo hiểm tham gia vào một cuộc chiến tổng lực có thể thiêu rụi cả an ninh năng lượng lẫn trật tự chính trị tại lục địa già.

Tuấn Nhật/VOV-Tokyo, Anh Tuấn/VOV-Paris

TIN LIÊN QUAN




























Home Icon VỀ TRANG CHỦ