🔍
Chuyên mục: Ẩm thực

Vị ngọt từ bãi sông Hồng

1 ngày trước
Mùa hè năm nào tôi cũng nhớ da diết món chè khoai bác tôi nấu trong những ngày nước lên của ấu thơ xưa ấy.

Tranh: Hoàng Phượng Vỹ.

Làng tôi ven sông Hồng. Con đê sừng sững vẽ một đường mềm mại chia làng ra làm đôi. Một nửa là trong đồng, nơi nhà bà nội tôi cùng nhiều gia đình khác đã chuyển ra khi nhà cũ bị lở sạch theo những xoáy nước đục ngầu của con sông. Một nửa vẫn còn bám trụ lại bên kia đê, chỗ cái lưỡi tham lam của Hà Bá chưa ngoạm tới. Nhà bà ngoại tôi ở đó.

Mỗi buổi chiều mùa hè, sau khi chơi chán ở ngoài cánh đồng, nếu như trời không bất chợt nổi cơn dông, tôi sẽ lon ton đi trên con đường cái giữa những thửa ruộng, băng lên con dốc ngoằn nghoèo gập ghềnh sống trâu và lổn nhổn sỏi gan gà để lên đê. Bước chân đứa trẻ con 4 - 5 tuổi vừa đi vừa chểnh mảng hái hoa bắt bướm, nhiều lần bị vấp bật móng hoặc ngã trầy da, nhưng không lần nào tôi bỏ cuộc. Bởi có món chè khoai đang đợi tôi ở cuối con đường.

Những đứa trẻ lớn lên ven sông đã quá quen với cảnh trên trời thì nắng chang chang nhưng nước vẫn ngập mênh mông tứ phía. Nhà bà ngoại tôi như một chiếc ốc đảo với dấu hiệu nhận rõ là cây sấu già cao vút, những ngọn tre lả lướt với những ngọn cau lúc lỉu quả, ríu rít những bầy chim làm tổ trong bẹ lá. Tôi đứng trên đê gọi rất to. Chỉ một lát sau, chị tôi chèo thuyền ra đón.

Chiếc thuyền nan là thuyền của những gia đình trong xóm ngày hai buổi làm phương tiện di chuyển sang bãi bồi bên sông để trồng cũng như chở ngô, khoai, lạc, đỗ, mía... về nhà. Vào những lúc nước lũ dâng cao như thế này, không ai dám băng sông sang bãi, nên thuyền dùng để chuyên chở người đi quanh xóm, cho trẻ con đi chơi. Ngồi trên chiếc thuyền ấy, tôi lướt qua những ngọn tre, ngọn chuối, thích thú sờ tay cả vào những hàng rào mà vào ngày thường thôi kiễng chân với tay lên cũng không tới nơi.

Bao giờ cũng thế, cứ bước được chân vào sân nhà, chị đi cất thuyền và làm các việc nhà khác, tôi liền nhảy chân sáo đến chiếc “biển” (mà thực chất là bể, nhưng quê tôi cứ gọi là biển) chứa nước mưa mát lịm, múc một gáo dừa, vã lên mặt, rửa chân tay cho sảng khoái. Bể xây từ bao giờ chẳng ai nhớ, khum khum mái vòm bên trên, có đường ống bằng thân tre cho nước mưa chảy trên các mái nhà xuống. Nhà gần sông nhưng vô cùng thiếu nước sạch. Bởi ở đây không đào được giếng, nước sông Hồng đỏ quạch phù sa, tắm giặt còn khó nói gì ăn, uống. Bởi vậy, nước cũng phải hết sức tiết kiệm. Cũng may, giờ là mùa hè, mưa nhiều, nên dùng hết thì lại liên tục có những đợt mưa to kéo đến, biển lúc nào cũng đầy ăm ắp.

Khi tôi bước vào nhà chào bà, chào bác, cũng là lúc bác tôi tiến đến bên hè, gỡ chiếc quang treo nho nhỏ xuống. Quang này ngắn hơn quang dùng để gánh gạo, quảy lúa bởi chỉ dùng riêng cho việc cất thức ăn. “Chó treo, mèo đậy”, nhà lại có cả kiến và chuột nữa, nên cứ treo thế này cho chắc, bác tôi bảo thế. Đặt chiếc quang xuống đất, bác múc cho tôi một bát chè đỗ đen từ chiếc nồi đặt trong quang, rồi lại cẩn thận treo lên.

Bà ngoại đã già, nhưng không lúc nào ngơi chân tay, vừa bỏm bẻm nhai trầu, vừa thái rau lợn, quét sân, rê thóc, đun cám... Có khi tôi vác bát ra, vừa ăn chè vừa xem bà làm việc, trò chuyện với bà. Cũng có khi bà đi cuốc đất sau vườn, chỉ còn mình tôi và con chó xù già. Nó già đến nỗi mắt mờ không còn nhìn thấy gì. Bộ lông dày xịt xoắn lại với nhau, theo từng nhịp thở già nua nặng nhọc của nó càng trở nên nóng bức. Nó nằm ghếch mõm ở hè, tôi ngồi vắt vẻo phệt mông xuống bậc thềm, vừa ăn vừa nghểnh mặt nhìn trời. Yên tĩnh đến mức thi thoảng ngoài tiếng trâu nghé ngọ trong chuồng, tiếng nước oàm oạp dâng lên, tiếng gà mổ nhau thì chỉ còn tiếng nhai của tôi. Có lẽ vì thế mà món chè khoai ngọt đượm vừa ngấm vào chân răng, thấm vào vị giác, thấm cả vào trí nhớ của tôi nữa.

Sau này tôi mới hiểu, không phải vì đói, cũng không phải chưa từng được ăn món gì ngon hơn. Mà món chè ngon bởi tất cả những gì làm nên nó. Đỗ đen được trồng ở đất bãi sông Hồng, giữa bao la đất trời, ra hoa đậu quả trong tiếng sóng vỗ và gió hát. Đỗ trảy vào tháng tư, qua nắng đầu mùa, chỉ cần ninh một chút bằng rơm mới là bở tơi. Khoai lang cũng là khoai đất bãi, vùi mình trong trầm tích phù sa ngàn năm của con sông mẹ.

Giống khoai lang trắng ấy không thể nói là ngon, thậm chí rất dở, nhưng nó mộc mạc như người dân quê tôi vậy. Củ khoai dài ngoằng, nho nhỏ bởi không có phân gio. Một nửa màu tím, lan đến nốt nửa kia thì lại nhạt thành màu trắng. Ngoài nấu cám cho lợn, luộc cho gà, thái lát phơi khô thì đa phần người lớn hay trẻ con đều thích ăn sống. Bởi ăn sống còn ngọt, chứ luộc lên thì chẳng bở mà lại hơi nhạt. Nhưng nhà nào nhà nấy vẫn trồng rất nhiều, dỡ về chất đầy gậm giường, vì vốn dĩ cũng chẳng biết trồng gì ngoài thứ củ gắn với nhà nông ấy.

Chỉ riêng bác tôi là mang ra nấu cùng với chè đỗ đen. Mà kì lạ, kết hợp với nhau lại thành hợp lí lạ thường. Nhưng không thể không “kể công” thứ kết nối khoai và đỗ với nhau, chính là mật mía.

Tất nhiên, mía cũng được trồng trên đất bãi. Những cây mía cao nghều, vỏ xanh mướt và cứng nhưng ngọt sắc. Vào mùa thu hoạch, từng ôm mía được chở bằng thuyền, được chất lên xe bò, đưa về sân kho. Rồi người làng như mở hội suốt ngày đêm. Những con trâu béo mập khỏe mạnh kéo miệt mài ép mía chảy thành nước. Những chiếc nồi đồng được chất lên trên bếp đun bằng củi là những thân cây to đại người làng vớt được từ dòng lũ thượng nguồn đổ về. Cứ kéo, cứ đun như thế nhiều giờ thì thành những mẻ mật mía đỏ nâu sánh mịn. Sau đó, mật được ép thành những tảng đường phên to đùng, chắc nịch, bọc trong lá chuối khô, buộc bằng những sợi rơm nếp. Ở quê tôi, nhà nào cũng có vài tảng đường như thế, giấu lên gác bếp, để dành ăn quanh năm.

Mỗi lần nấu chè, bác tôi phải mang con dao rựa ra chặt lấy từng miếng đường nhỏ để cho vào nồi. Miếng đường bị vát bên này, chặt bên kia, nhiều khi không còn ra hình thù gì. Có khi tôi còn xin bác một miếng để ăn cho đỡ thèm. Vị đường mía ăn riêng đã ngon nhưng khi bỏ vào nấu chè khoai, chao ôi, chẳng còn gì ngon hơn thế.

Hạt đỗ bở tơi. Miếng khoai dẻo quánh tinh bột quện với vị mật mía thanh thanh, nhang nhác vị gừng. Cứ một miếng cái lại một ngụm nước. Nước mưa ngậm no chất của đỗ đen, khoai lang, mật mía tiết ra, ngọt đượm đến tận ruột, thấm đến tận tim gan.

Đứa trẻ 4 - 5 tuổi ăn một bát chè không biết bao lâu. Chỉ biết là rất nhiều đám mây trắng nhẩn nha bay trên đầu. Nhiều đàn cò cũng xếp đủ hình dáng bay qua những tán cau. Trong hàng cây mộc già chạy sát bờ tường bên biển nước, thỉnh thoảng có con chuột nhắt thí thót chạy ra chạy vào tha những đầu mẩu khoai. Có khi tôi bỏ dở bát chè chạy ra giúp bà ngoại giã một cối trầu. Răng bà móm rồi, chiếc cối bằng đồng nhỏ xíu giống như một món đồ chơi đầy hấp dẫn với tôi, nhưng để giã được một miếng trầu dập ra cho bà nhai đỡ vất vả thì cũng là cả một hồi chật vật. Trong lúc ấy, con mèo mướp tò mò ngồi cạnh bát chè, canh không cho con chuột đến gần.

Cũng có khi, bát chè vừa ăn xong thì chợt thấy bầu trời tối sầm lại. Gió thổi tung mù và sấm rền vang. Cả bà, cả bác, cả chị, ngay cả đến con mèo cũng tất bật hẳn lên. Thóc phơi trên trần dọn trước. Tôi còn bé, chỉ giúp được việc xúc thóc vào thúng sau khi bà cào vào thành đống cho bác và chị bê chạy xuống cầu thang cất vào nhà. Xung quanh các nhà cũng khẩn trương, náo loạn. Tiếng hò hét nhau, tiếng bước chân chạy như đua với tiếng sấm và ánh sét lóe lên phía chân trời. Nhiều khi chưa dọn xong thì đã mưa ập xuống. Cũng có khi còn kịp chạy ra dọn rơm. Ai có ở quê mới biết câu “Ôm rơm chạy bão” là như thế nào. Cứ thế mà xách, mà ôm, mà vơ, được càng nhiều càng tốt rồi chạy ù về chỗ cho người đánh đống, che đậy lại xong lại guồng chân quay lại nhịp như thế, mãi cho đến khi cơn mưa ập xuống. Thì tắm mưa cả thể.

Cũng có những buổi chiều mọi người đi ra đồng làm việc cả, tôi ăn xong thì lẳng lặng rửa bát, úp lên rổ ngay trên mặt biển, xoa xoa đầu con chó già rồi, đứng ngoài cổng thấy thuyền ai đi qua thì lên nhờ trở lại đê. Đứng trên mặt đê, nhìn ra bốn phía xung quanh, chân trời đủ sắc lam, vàng, tím, đỏ chen lẫn giữa những khoảng mây xám kéo nhau về cuối chiều. Tôi trở về nhà bà nội, mà biết rằng cơn thèm chè khoai đã trở lại ngay khi giấc ngủ vừa đến.

Nhiều năm sau này, tôi từng thử nấu chè khoai như bác tôi từng nấu. Cũng là đỗ đen, cũng là khoai lang trắng, cũng là đường phên. Nhưng cả đỗ, cả khoai, cả đường không phải được trồng từ bãi bồi sông Hồng quê tôi. Tất nhiên, cũng không được nấu từ rơm đầu mùa, không được treo lên chiếc quang, không được “ăn kèm” cùng những “gia vị” như nước mưa hay hương mộc thơm ngát, trong tiếng sóng vỗ ì oạp mùa nước lên, không được chạy bão cật lực như gần 40 năm về trước. Nên tôi không thấy lại được những buổi chiều ăn món chè bác tôi nấu ngày nào.

Bởi thế, hương vị ấu thơ vẫn mãi là hương vị ký ức mà ta có đi tìm cả đời cũng thấy lại được.

Mùa nước lên năm nay, tôi trở lại ngôi nhà bà ngoại xưa để cúng 50 ngày bác. Biển nước, hàng cau với hàng mộc già cũng không còn nữa. Đứng bên sân, nhìn vào đầu hè, tôi nhìn nhìn thấy vóc dáng bác nhỏ bé, đưa tay nhấc chiếc quang tre để lấy xuống nồi chè khoai. Bất giác, tôi như muốn đưa tay ra đón bát chè thơm ngọt năm nào.

Như Trang











Home Icon VỀ TRANG CHỦ