Về với dân, kiến tạo 'hệ điều hành xanh'

Tổ công nghệ áo xanh và hành trình xóa mù số từ đại ngàn xuống biển ghi lại nỗ lực của đoàn viên thanh niên tỉnh Gia Lai trong phong trào “Bình dân học vụ số”.

Có những nơi trên bản đồ chuyển đổi số mà khoảng cách không chỉ được đo bằng số ki-lô-mét đường rừng. Nó nằm trong từng vạch sóng yếu, trong mỗi lần người dân phải xuống trung tâm xã để làm một thủ tục tưởng như rất nhỏ.

Làng O2 (xã Vĩnh Sơn, tỉnh Gia Lai) nằm biệt lập trên đỉnh núi Konhlon, có 56 hộ với 194 nhân khẩu, phần lớn là đồng bào Ba Na. Con đường độc đạo vào làng quanh co, dốc đứng, mùa nắng đã khó đi, mùa mưa lại càng trơn trượt. Với người dân nơi đây, sóng điện thoại ổn định hay mạng 4G/5G không phải lúc nào cũng là điều hiển nhiên.
Khi hạ tầng còn chập chờn, việc tiếp cận dịch vụ công trực tuyến trở thành một thử thách thực sự. Muốn làm giấy khai sinh, xác nhận hồ sơ hay giải quyết thủ tục cá nhân, nhiều người vẫn phải xuống trung tâm xã. Chuyển đổi số, nếu không chạm được tới những nơi như O2, sẽ rất dễ trở thành câu chuyện xa xôi với chính những người cần được hỗ trợ nhất.
Vì vậy, Đinh Thị Vách cùng các đoàn viên thanh niên, cán bộ chiến sĩ Công an xã Vĩnh Sơn bắt đầu một công việc không có nhiều trong giáo trình kỹ thuật: tìm cách “cõng sóng” về bản để hỗ trợ bà con.

Đường vào làng đã khó, triển khai dịch vụ công trực tuyến ở O2 còn khó hơn. Có lúc, để bắt được sóng điện thoại và tạo điểm phát Wi-Fi phục vụ việc kích hoạt tài khoản, các đoàn viên và cán bộ chiến sĩ phải chọn vị trí cao, dựng thiết bị bắt sóng, rồi thay nhau hướng dẫn người dân bên dưới.
Việc kích hoạt tài khoản định danh điện tử mức độ 2 vì thế không chỉ là thao tác trên điện thoại. Đó là một cuộc phối hợp khẩn trương giữa người giữ kết nối, người hướng dẫn và người dân đang chờ đến lượt. Mạng có thể yếu, sóng có thể mất bất cứ lúc nào, nên từng bước nhập thông tin, xác thực, hoàn tất tài khoản đều phải làm cẩn thận nhưng nhanh gọn.
Đến nay, 58 công dân đủ điều kiện ở thôn O2 đã được kích hoạt định danh điện tử mức độ 2. Con số ấy không lớn nếu đặt bên cạnh những thống kê cấp tỉnh, nhưng ở một bản làng còn nhiều khó khăn về hạ tầng, mỗi tài khoản được kích hoạt là một lần người dân tiến gần hơn đến các dịch vụ thiết yếu.
Câu chuyện ở O2 cho thấy khoảng cách số không chỉ là chuyện thiếu điện thoại thông minh hay chưa quen thao tác. Đó còn là hạ tầng viễn thông, là đường đi, là chi phí dữ liệu, là khả năng có người hướng dẫn đúng lúc. Một phong trào muốn bền vững phải nhìn thẳng vào những điểm nghẽn ấy.


Từ nhà rông làng K3 đến cảng cá Tam Quan, rồi tới làng O2, lực lượng đoàn viên Gia Lai đã cho thấy vai trò nòng cốt trong hành trình “Bình dân học vụ số”. Nhưng càng đi sâu vào vùng khó, câu hỏi càng rõ hơn: làm sao để phong trào không chỉ rực lên trong những đợt cao điểm rồi lắng xuống?

Những chỉ số do Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Gia Lai chốt ngày 8/6/2026 cho thấy bức tranh hai mặt của quá trình ấy: một số kết quả bước đầu đã hình thành, nhưng các điểm nghẽn về hạ tầng, cơ chế duy trì và khả năng đồng hành thường xuyên với người dân vẫn còn khá lớn.

Những con số ấy không làm giảm ý nghĩa của phong trào. Ngược lại, chúng cho thấy chuyển đổi số ở cơ sở không thể chỉ dựa vào tinh thần tình nguyện. Hạ tầng yếu có thể làm gián đoạn mọi thao tác. Người dân ít thực hành có thể nhanh chóng quên những gì vừa học.
Đáng lo nhất là nguy cơ “tái mù số”. Một người dân có thể được cài ứng dụng hôm nay, nhưng nếu không có mạng để dùng, không có nhu cầu thực hành thường xuyên hoặc không thấy công nghệ giúp ích trực tiếp cho sinh kế, các thao tác đã học rất dễ bị bỏ quên. Khi đó, chuyển đổi số có thể dừng ở số lượt kích hoạt, thay vì trở thành năng lực thật của người dân.

Trao đổi về cách giữ cho “Bình dân học vụ số” không bị hình thức, anh Phạm Hồng Hiệp - Bí thư Tỉnh đoàn Gia Lai - cho rằng phong trào không thể chỉ dựa vào sự nhiệt tình nhất thời. Muốn đi đường dài, phải có tổ chức, con người, cơ chế và nguồn lực.
Theo anh Hiệp, ở cấp xã, phường cần duy trì Tổ công nghệ số cộng đồng do UBND cùng cấp quyết định thành lập; ở các đơn vị trực thuộc là các Đội hình Bình dân học vụ số. Cùng với đó, lực lượng này phải được bồi dưỡng thường xuyên, bởi công nghệ thay đổi nhanh, nếu không cập nhật liên tục sẽ sớm hụt hơi.

Một điều kiện khác là sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Thanh niên có thể là lực lượng xung kích, nhưng không thể một mình gánh tất cả các khâu của chuyển đổi số cơ sở. Khi chính quyền đồng hành bằng chính sách, khi các ngành cùng tham gia, khi kết quả hỗ trợ người dân được đưa vào chỉ tiêu đánh giá hằng năm, phong trào mới có cơ hội trở thành công việc thường xuyên.
Có thể gọi đó là một “hệ điều hành xanh”: không phải một ứng dụng cụ thể, mà là cách tổ chức lực lượng trẻ để công nghệ đi vào đời sống. Trong hệ điều hành ấy, mỗi đoàn viên là một điểm kết nối; mỗi nhà văn hóa, nhà rông, cảng cá hay bản làng xa sóng là một điểm phục vụ; mỗi người dân dùng được công nghệ cho một việc thật là một kết quả đáng giá.

Khi nhìn lại cả hành trình, từ Thu Ngân trong nhà rông làng K3, Thùy Linh trên boong tàu Tam Quan đến Đinh Thị Vách ở làng O2, có thể thấy “Bình dân học vụ số” không chỉ là câu chuyện dạy người dân dùng điện thoại. Đó là nỗ lực đưa công nghệ đến sát những nơi đời sống còn nhiều trở ngại nhất.
Ở O2, hành trình ấy bắt đầu từ việc tìm một điểm có sóng, tạo một điểm phát Wi-Fi, hướng dẫn một người dân kích hoạt tài khoản định danh. Nhỏ thôi, nhưng rất thật. Và chính từ những việc nhỏ ấy, khoảng cách số mới dần được rút ngắn bằng bàn tay, bước chân và sự bền bỉ của những người trẻ áo xanh.
An Yên - Nguyễn GiaAn Yên - Nguyễn Gia
1 ngày trước
16 phút trước
24 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
13 phút trước
40 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước