🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Về một cách tiếp cận chính sách thuế đối với hộ kinh doanh

1 giờ trước
Bài viết 'Cải cách thuế khu vực hộ cá thể: động lực cho mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số' của tác giả Phạm Lê Hoa và Bùi Trinh xuất bản trên Tạp chí Kinh tế Sài Gòn số 17-2026 đáng chú ý không chỉ vì nội dung chính sách được đề cập, mà còn bởi cách tiếp cận mang tính cấu trúc và chiều sâu kinh tế học mà nó thể hiện.
00:00
00:00

Khu vực hộ kinh doanh cá thể không chỉ tạo sinh kế cho hàng chục triệu người mà còn đóng vai trò duy trì sức cầu nội địa và giữ nhịp vận động của nền kinh tế ở cấp độ cơ sở. Ảnh: N.K

Trong bối cảnh các thảo luận về tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam hiện nay thường xoay quanh đầu tư công, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), xuất khẩu hay tín dụng, bài viết của hai tác giả đã chọn đi vào một khu vực tưởng như nhỏ bé nhưng thực chất lại là phần nền rộng lớn nhất của nền kinh tế: khu vực hộ kinh doanh cá thể.

Điều đầu tiên khiến bài viết tạo được ấn tượng là cách nhìn khác biệt về động lực tăng trưởng. Thay vì chỉ tập trung vào các “đầu tàu” kinh tế truyền thống như doanh nghiệp lớn hay khu vực FDI, bài viết nhấn mạnh vai trò của hàng triệu hộ kinh doanh nhỏ, các cửa hàng gia đình, quán ăn, dịch vụ cá thể và những hoạt động kinh doanh quy mô nhỏ nhưng lan tỏa sâu rộng trong đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam. Đây là một góc nhìn mang đậm tính “kinh tế cấu trúc”, bởi nó nhìn nền kinh tế không chỉ qua các con số GDP tổng hợp mà qua chính các mắt xích tạo nên dòng chảy kinh tế hàng ngày.

Trong thực tế, khu vực hộ kinh doanh cá thể tại Việt Nam không chỉ tạo sinh kế cho hàng chục triệu người mà còn đóng vai trò duy trì sức cầu nội địa và giữ nhịp vận động của nền kinh tế ở cấp độ cơ sở. Đây là khu vực mà người dân Việt Nam tiếp xúc trực tiếp mỗi ngày: từ quán phở đầu ngõ, cửa hàng tạp hóa, tiệm sửa xe, quán cà phê nhỏ cho tới các dịch vụ tự doanh.

Những hoạt động của khu vực này tuy nhỏ lẻ khi nhìn riêng lẻ, nhưng cộng lại tạo nên một tầng kinh tế có quy mô rất lớn và có tính ổn định xã hội cao. Bài viết đã làm nổi bật được điều đó bằng cách đặt khu vực hộ kinh doanh cá thể vào vị trí của một động cơ tăng trưởng nội sinh thay vì chỉ xem đây là khu vực cần quản lý thuế.

Người làm chính sách có thể nhìn thấy một góc tiếp cận mới về cải cách thuế. Giới nghiên cứu có thể nhận ra nền tảng tư duy cấu trúc phía sau các lập luận. Còn người kinh doanh nhỏ lại thấy bài viết phản ánh đúng những khó khăn và tâm lý của họ trong thực tế. Đạt được sự kết nối với cả ba nhóm độc giả như vậy là điều không dễ.

Điểm sâu sắc tiếp theo của bài viết nằm ở tư duy “nuôi dưỡng nguồn thu” thay vì “tận thu”. Đây có lẽ là phần quan trọng nhất và cũng là phần thể hiện rõ nhất tư duy kinh tế chính sách của hai tác giả. Trong nhiều nền kinh tế đang phát triển, cơ quan quản lý thường có xu hướng tối đa hóa nguồn thu ngân sách trong ngắn hạn. Tuy nhiên, bài viết đặt ra một câu hỏi rất đáng suy nghĩ: nếu chi phí tuân thủ thuế quá cao, thủ tục quá phức tạp và áp lực quản lý khiến hộ kinh doanh không muốn mở rộng quy mô, thì liệu Nhà nước có thực sự thu được nhiều hơn trong dài hạn?

Đây là một vấn đề rất thực tế của kinh tế Việt Nam hiện nay. Nhiều hộ kinh doanh sợ “lớn lên”, bởi khi quy mô tăng, họ phải đối mặt với vấn đề hóa đơn điện tử, sổ sách kế toán, thủ tục kê khai và nhiều chi phí tuân thủ khác. Khi chi phí chính thức hóa trở nên quá lớn so với năng lực quản trị của hộ nhỏ, phản ứng tự nhiên của họ là duy trì quy mô nhỏ hoặc hoạt động bán chính thức. Điều này không chỉ làm giảm động lực phát triển mà còn vô tình tạo ra một nền kinh tế thiếu minh bạch và khó nâng cao năng suất dài hạn.

Chính vì vậy, đề xuất nâng ngưỡng chịu thuế hoặc giảm mạnh áp lực tuân thủ đối với hộ kinh doanh nhỏ không đơn thuần là “giảm thuế”, mà là một cách tạo động lực để khu vực kinh tế dân sinh phát triển khỏe mạnh hơn. Tư duy này rất gần với các lý thuyết hiện đại về “economics of incentives” - kinh tế học về động lực hành vi. Một chính sách hiệu quả không phải là chính sách thu được nhiều tiền nhất ngay hôm nay, mà là chính sách khiến người dân muốn đầu tư, muốn mở rộng hoạt động và muốn tham gia vào nền kinh tế chính thức trong tương lai.

Bài viết cũng cho thấy dấu ấn rất rõ của tư duy nghiên cứu cấu trúc kinh tế mà TS. Bùi Trinh theo đuổi nhiều năm qua. Người đọc có nền tảng kinh tế học sẽ dễ dàng nhận ra trong bài cách nhìn về hiệu ứng lan tỏa, về cầu nội địa, về động lực nội sinh và về vai trò của các mắt xích kinh tế nhỏ trong cấu trúc GDP.

Đây không phải là kiểu lập luận cảm tính hay mang tính khẩu hiệu, mà là cách nhìn kinh tế từ góc độ hệ thống. Tức là mỗi thay đổi trong chính sách thuế không chỉ ảnh hưởng đến thu ngân sách, mà còn tác động tới hành vi kinh doanh, tiêu dùng, việc làm và dòng chảy tiền tệ trong toàn bộ nền kinh tế.

Điều đáng quý là bài viết không cực đoan. Hai tác giả không phủ nhận vai trò quản lý của Nhà nước, cũng không đưa ra quan điểm “thả nổi thị trường”. Ngược lại, bài viết giữ được sự cân bằng giữa nhu cầu quản lý và nhu cầu tạo điều kiện cho phát triển. Đây là điểm rất khó trong các bài bình luận chính sách. Nhiều bài viết thường rơi vào hai thái cực: hoặc thiên hoàn toàn về quản lý hành chính, hoặc quá lý tưởng hóa tự do kinh doanh. Trong khi đó, bài viết này chọn một hướng tiếp cận thực tế hơn: giảm chi phí tuân thủ để khuyến khích phát triển chính thức, từ đó mở rộng cơ sở thuế một cách bền vững trong tương lai.

Một điểm khác khiến bài viết có giá trị là cảm giác “hiểu nền kinh tế thật”. Nhiều nghiên cứu kinh tế hiện nay ở Việt Nam rất mạnh về kỹ thuật mô hình nhưng đôi khi xa rời đời sống kinh doanh thực tế. Trong khi đó, bài viết của hai tác giả cho thấy sự quan sát rất gần với hoạt động kinh tế dân sinh. Có thể cảm nhận được rằng người viết hiểu tâm lý hộ kinh doanh nhỏ, hiểu sự e dè của họ trước các thay đổi chính sách và hiểu rằng sức sống của nền kinh tế không chỉ nằm ở các tập đoàn lớn mà còn nằm ở hàng triệu giao dịch nhỏ diễn ra mỗi ngày.

Đây cũng là lý do bài viết có khả năng tạo đồng cảm với nhiều nhóm độc giả khác nhau. Người làm chính sách có thể nhìn thấy một góc tiếp cận mới về cải cách thuế. Giới nghiên cứu có thể nhận ra nền tảng tư duy cấu trúc phía sau các lập luận. Còn người kinh doanh nhỏ lại thấy bài viết phản ánh đúng những khó khăn và tâm lý của họ trong thực tế. Đạt được sự kết nối với cả ba nhóm độc giả như vậy là điều không dễ.

Đàm Quang Trung - Nguyễn Khánh Huy

TIN LIÊN QUAN



























Home Icon VỀ TRANG CHỦ