🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Văn hóa dân tộc thiểu số ở Thủ đô: Từ bảo tồn đến tạo sinh kế bền vững

1 giờ trước
Trong bối cảnh đô thị hóa và hội nhập sâu rộng, việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số ở Hà Nội đang đứng trước nhiều thách thức. Tuy nhiên, từ thực tiễn cho thấy, nếu biết khai thác hợp lý, gắn văn hóa với sinh kế và phát triển du lịch, di sản không chỉ được gìn giữ mà còn trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển bền vững.

Du lịch gắn với làng nghề mở lối cho di sản “sống” cùng đời sống hiện đại

Từ góc nhìn nghiên cứu và thực tiễn giảng dạy, TS. Nguyễn Anh Cường, Trưởng Bộ môn Quản trị du lịch cộng đồng, Khoa Quản trị du lịch và Ngôn ngữ quốc tế, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội cho rằng, phát triển sinh kế dựa trên di sản văn hóa, đặc biệt là mô hình du lịch gắn với làng nghề truyền thống, đang mở ra một hướng đi hiệu quả và bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Một trong những ví dụ tiêu biểu là nghề làm thuốc nam của người Dao tại Ba Vì. Theo TS. Nguyễn Anh Cường, giá trị của nghề không chỉ nằm ở sản phẩm thuốc mà còn ở hệ tri thức dân gian, kinh nghiệm chữa bệnh và không gian văn hóa gắn với đời sống cộng đồng. Khi được đưa vào hoạt động du lịch, những yếu tố này trở thành “tài nguyên” đặc biệt, tạo nên sức hút riêng biệt.

Thực tế cho thấy, khi du lịch phát triển gắn với làng nghề, người dân không chỉ có thêm thu nhập từ việc bán sản phẩm mà còn từ các dịch vụ trải nghiệm như giới thiệu quy trình sản xuất, chăm sóc sức khỏe bằng bài thuốc truyền thống hay kể lại câu chuyện văn hóa của dân tộc mình. Điều này không chỉ nâng cao giá trị sản phẩm mà còn góp phần gìn giữ tri thức và bản sắc vốn có.

Không dừng lại ở nghề thuốc nam, nhiều làng nghề khác của đồng bào dân tộc thiểu số cũng hoàn toàn có thể phát triển theo hướng này. Khi sản phẩm gắn với câu chuyện văn hóa và được đưa vào chuỗi giá trị du lịch, giá trị kinh tế được gia tăng, tạo động lực để người dân duy trì và phát triển nghề truyền thống.

Các khách mời tham dự Chương trình Thời sự đặc biệt: Văn hóa dân tộc thiểu số ở Thủ đô – Bảo tồn để phát triển bền vững. ảnh: Phan Anh

Quan trọng hơn, mô hình này giúp giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển. Người dân không còn phải lựa chọn giữa “giữ nghề” hay “bỏ nghề”, mà có thể sống được bằng chính di sản của mình. Đồng thời, thông qua du lịch, bản sắc văn hóa cũng được quảng bá rộng rãi, góp phần nâng cao vị thế văn hóa của địa phương.

Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Bùi Duy Quang – Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Hà Nội – cho biết, nhiều địa phương có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như Ba Vì, Suối Hai, Yên Bài, Yên Xuân, Mỹ Đức… đã và đang hình thành các mô hình sinh kế dựa trên nền tảng di sản văn hóa. Các mô hình này khá đa dạng, từ du lịch cộng đồng, trải nghiệm văn hóa đến phát triển các sản phẩm đặc thù như nghề thuốc nam của người Dao. Đặc biệt, năm 2024, Hà Nội đã công bố mô hình du lịch cộng đồng “Điểm đến du lịch cộng đồng bản Miền” tại xã Ba Vì, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào.

Hợp tác xã thảo dược dân tộc Dao Phượng Huệ xã Ba Vì phát triển bảo tồn nhiều bài thuốc của người Dao. ảnh: Sơn Tùng

Tuy nhiên, ông Bùi Duy Quang cũng thẳng thắn nhìn nhận, không phải mô hình nào cũng đạt hiệu quả như kỳ vọng. Theo ông, những mô hình thực sự thành công phải là nơi người dân vẫn giữ được tinh hoa bản sắc, tránh tình trạng thương mại hóa quá mức, đồng thời có sự kết nối bài bản với thị trường.

Thực tế cho thấy, vẫn còn những địa phương phát triển theo phong trào, thiếu định hướng dài hạn, dẫn đến hiệu quả chưa cao và chưa khai thác hết nguồn lực nội sinh từ cộng đồng. Nếu không kiểm soát tốt, nguy cơ “biến dạng” di sản là hoàn toàn có thể xảy ra.

Do đó, yêu cầu đặt ra là phải có sự định hướng rõ ràng, tránh chạy theo lợi ích ngắn hạn mà làm mất đi giá trị cốt lõi của văn hóa. Việc phát triển các mô hình sinh kế từ di sản cần đặt trong một chiến lược tổng thể, đảm bảo vừa khai thác hiệu quả, vừa gìn giữ được bản sắc lâu dài.

Đưa văn hóa thành trụ cột phát triển, tránh nguy cơ thương mại hóa

Theo TS. Nguyễn Anh Cường, để các mô hình bảo tồn và phát huy văn hóa vận hành hiệu quả, yếu tố then chốt là định hướng đúng. Trong đó, Nghị quyết 80 được xem là nền tảng quan trọng, tạo cơ sở cho việc gắn kết giữa bảo tồn văn hóa với phát triển kinh tế. Ông nhấn mạnh, trong định hướng này, con người giữ vai trò trung tâm, vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là người thụ hưởng, đồng thời quyết định tính bền vững của các giá trị văn hóa.

Một yếu tố quan trọng khác là phải gắn chặt với cộng đồng cư dân tại chỗ. Chính cộng đồng là môi trường nuôi dưỡng và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống. Do đó, bảo tồn không thể tách rời khỏi đời sống thực tế, mà cần gắn với phát triển kinh tế thông qua khai thác hợp lý các giá trị văn hóa.

Tuy nhiên, việc khai thác cần có chọn lọc, tránh dàn trải. Cần xác định rõ những nội dung có thể triển khai ngay và những nội dung cần đầu tư dài hạn. Đồng thời, chú trọng xây dựng sản phẩm văn hóa gắn với thương hiệu, hướng tới phát triển công nghiệp văn hóa. TS. Nguyễn Anh Cường cũng cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, việc số hóa các giá trị văn hóa là xu hướng tất yếu. Số hóa không chỉ giúp lưu giữ lâu dài mà còn mở rộng khả năng quảng bá tới công chúng trong và ngoài nước. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả, cần xây dựng môi trường và không gian phù hợp cho quá trình này.

Bên cạnh đó, yếu tố con người vẫn đóng vai trò quyết định. Cần có đội ngũ cán bộ am hiểu, tâm huyết, cùng với sự tham gia tích cực của người dân. Nếu thiếu sự đồng thuận và chủ động từ cộng đồng, các chính sách dù đúng đắn cũng khó đi vào thực tiễn. Theo ông, việc cân bằng giữa bảo tồn và phát huy là yêu cầu xuyên suốt. Nếu chỉ chú trọng bảo tồn sẽ thiếu nguồn lực phát triển, còn nếu chỉ tập trung phát triển, bản sắc văn hóa dễ bị mai một. Vì vậy, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà quản lý, nhà nghiên cứu và chính cộng đồng để tìm ra giải pháp phù hợp.

Hợp tác xã thảo dược dân tộc Dao Phượng Huệ xã Ba Vì phát triển bảo tồn nhiều bài thuốc của người Dao. ảnh: Sơn Tùng

Từ góc độ quản lý, ông Bùi Duy Quang khẳng định, Nghị quyết 80-NQ/TW đã tạo ra sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển, khi văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần, đồng thời là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững. Để hiện thực hóa định hướng này, Sở Dân tộc và Tôn giáo Hà Nội đang tập trung cụ thể hóa thành các chương trình, đề án phù hợp với đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trọng tâm là phát triển các sản phẩm văn hóa đặc trưng, từng bước hình thành các ngành công nghiệp văn hóa.

Một trong những định hướng lớn là phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản. Hà Nội sẽ xây dựng cơ chế, chính sách nhằm thu hút đầu tư vào hạ tầng du lịch tại các vùng miền núi, đồng thời đảm bảo hài hòa giữa bảo tồn văn hóa, bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh trật tự. Đáng chú ý, Đề án bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2025–2030 đang được triển khai với mục tiêu tạo ra các mô hình hiệu quả, có khả năng lan tỏa. Qua đó, không chỉ gìn giữ di sản mà còn tạo sinh kế, nâng cao đời sống cho người dân.

Cùng với đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc được đặc biệt chú trọng, nhất là ở cơ sở, nhằm nâng cao năng lực tổ chức và triển khai chính sách. Theo ông Bùi Duy Quang, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ dừng ở mục tiêu kinh tế, mà cần hướng tới xây dựng những không gian văn hóa đặc sắc nơi các giá trị truyền thống được bảo tồn và phát huy trong đời sống đương đại. Đây cũng chính là cách để các cộng đồng dân tộc thiểu số đóng góp ngày càng rõ nét hơn vào diện mạo của một Thủ đô Hà Nội văn hiến, văn minh và hiện đại.

Bạch Thanh

TIN LIÊN QUAN





















Home Icon VỀ TRANG CHỦ