🔍
Chuyên mục: Nghệ thuật

Văn hóa dân tộc thiểu số ở Thủ đô - bảo tồn để phát triển bền vững

1 giờ trước
Từ 18h30 đến 20h hôm nay (18-4), nội dung chính của Chương trình thời sự với chủ đề: 'Văn hóa dân tộc thiểu số ở Thủ đô - bảo tồn để phát triển bền vững' được truyền hình trực tiếp trên các kênh sóng của Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội.

Chương trình tập trung phản ánh thực trạng công tác bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số tại Thủ đô; đồng thời phân tích những thách thức, cơ hội và giới thiệu các mô hình, giải pháp hiệu quả, nhằm gắn bảo tồn với phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho đồng bào.

Hiện tại, Hà Nội có hơn 109.000 người dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 1,3% dân số toàn thành phố. Những năm qua, dưới sự chỉ đạo của Thành ủy, UBND thành phố, cùng với sự vào cuộc của chính quyền cơ sở, nhiều hoạt động thiết thực đã được triển khai tại các thôn, xã có đông đồng bào sinh sống, nhằm gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống trước tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa.

Biểu diễn cồng chiêng, một nét văn hóa của người dân tộc Mường ở Yên Xuân. Ảnh: Hữu Thiện

Đặc biệt, việc ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị được xem là dấu mốc quan trọng, thể hiện tư duy và tầm nhìn mới trong phát triển văn hóa. Nghị quyết khẳng định vai trò của văn hóa như nền tảng tinh thần và nguồn lực nội sinh, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước. Đây cũng là cơ sở để Hà Nội tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số.

Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn. Để phát triển bền vững, cần tìm ra hướng đi phù hợp giúp đồng bào vừa gìn giữ bản sắc văn hóa, vừa tạo sinh kế ổn định, từng bước nâng cao đời sống. Đây cũng chính là nội dung trọng tâm sẽ được đề cập trong Chương trình thời sự đặc biệt phát sóng tối nay.

Chương trình có sự tham gia của 2 khách mời:Ông Bùi Duy Quang, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Hà Nội và Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường, Trưởng Bộ môn Quản trị du lịch cộng đồng, Khoa Quản trị du lịch và ngôn ngữ quốc tế, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.

Cộng đồng dân tộc thiểu số: Góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa Thủ đô

Ông Bùi Duy Quang, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Hà Nội cho biết, Hà Nội không chỉ được biết đến là trung tâm chính trị của cả nước, mà còn là nơi hội tụ và giao thoa nhiều giá trị văn hóa. Trong bức tranh chung ấy, cộng đồng các dân tộc thiểu số đã và đang góp phần tạo nên những mảng màu riêng, giàu bản sắc.

Các đại biểu tham gia giao lưu tại chương trình. Ảnh: Phan Anh

Hiện nay, trên địa bàn Thủ đô có khoảng 109.000 đồng bào dân tộc thiểu số, với sự hiện diện của 48/53 thành phần dân tộc. Từ tiếng cồng chiêng của người Mường, tri thức bản địa như thuốc nam của người Dao, đến những lễ hội truyền thống độc đáo, tất cả đã tạo nên một không gian văn hóa đa dạng, sinh động giữa lòng đô thị.

Đánh giá về vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số trong đời sống văn hóa Thủ đô, ông Bùi Duy Quang, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Hà Nội, cho biết: “Đồng bào dân tộc thiểu số là một bộ phận cấu thành không thể tách rời trong đời sống văn hóa của Hà Nội. Không chỉ góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa Thủ đô, đồng bào còn là chủ thể sáng tạo, đồng thời trực tiếp thụ hưởng và bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống, nhất là trong bối cảnh đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay”.

Theo ông Bùi Duy Quang, chính cộng đồng các dân tộc thiểu số đã tạo nên nguồn lực nội sinh quan trọng, góp phần bồi đắp nền tảng văn hiến lâu đời, đồng thời đóng góp vào việc xây dựng và khẳng định danh hiệu Thành phố sáng tạo của Hà Nội.

Nguồn lực quan trọng của văn hóa Hà Nội

Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường cho biết, có thể khẳng định, bản sắc văn hóa của Hà Nội rất phong phú và sống động, trong đó có sự đóng góp quan trọng của đồng bào các dân tộc thiểu số. Đồng bào không chỉ gìn giữ mà còn tham gia vào các hoạt động văn hóa lớn của thành phố.

Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường, Trưởng Bộ môn Quản trị du lịch cộng đồng, Khoa Quản trị du lịch và ngôn ngữ quốc tế, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Ảnh: Phan Anh

Điều này được thể hiện rõ qua các sự kiện như lễ hội văn hóa dân tộc, tôn giáo – nơi bà con trình diễn những giá trị đặc sắc của mình thông qua nghệ thuật, ẩm thực, trang phục và phong tục truyền thống. Qua đó, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa Thủ đô.

Bên cạnh đó, các hoạt động văn hóa – thể thao, hội thi, phong trào dành cho đồng bào dân tộc thiểu số cũng diễn ra sôi nổi, thu hút sự tham gia tích cực, thể hiện rõ sự đa dạng và sức sống của văn hóa các dân tộc trong lòng Hà Nội.

Đáng chú ý, nhiều địa phương đã phát triển mô hình du lịch cộng đồng gắn với văn hóa dân tộc. Chính người dân là chủ thể quảng bá, giới thiệu bản sắc của mình, góp phần tạo dấu ấn riêng cho văn hóa Thủ đô.

Không chỉ vậy, đồng bào dân tộc thiểu số còn là nguồn nhân lực quan trọng trong các lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa Hà Nội theo hướng ngày càng đa dạng và bền vững.

Chính sách đặc thù phát huy hiệu quả

Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Hà Nội Bùi Duy Quang cho biết: Những năm qua, thành phố Hà Nội đã cụ thể hóa các chủ trương của Đảng bằng những cơ chế chính sách đặc thù, trọng tâm là Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc tiểu số giai đoạn 2021-2030, Sở Dân tộc và Tôn giáo Hà Nội đã tham mưu triển khai đồng bộ việc đầu tư các thiết chế văn hóa cơ sở, khôi phục làng nghề truyền thống và đặc biệt là cơ chế hỗ trợ trực tiếp cho các nghệ nhân truyền dạy di sản.

Ông Bùi Duy Quang, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Hà Nội tại chương trình. Ảnh: Phan Anh

Hiệu quả lớn nhất không chỉ nằm ở các công trình vật chất được xây dựng mà là sự hồi sinh của các câu lạc bộ văn hóa ngay tại cộng đồng, giúp người dân tự tin sử dụng trang phục, ngôn ngữ và nghi lễ truyền thống trong đời sống thường nhật.

"Những chính sách này đã đi đúng hướng, biến các di sản từ tĩnh sang động và thực sự phát huy hiệu quả khi nhiều nét văn hóa bị mai một đang dần hồi sinh mạnh mẽ trở thành niềm tự hào của đồng bào", ông Bùi Duy Quang khẳng định.

Hướng đi bền vững của Hà Nội

Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường chia sẻ, trong tiến trình phát triển Thủ đô, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số đang được xác định là nhiệm vụ quan trọng, vừa mang ý nghĩa gìn giữ giá trị truyền thống, vừa mở ra hướng phát triển kinh tế bền vững.

Ông nhấn mạnh: “Trước hết, cần nhấn mạnh vai trò của các cơ quan quản lý thành phố. Đây là nền tảng quan trọng, tạo điều kiện để đồng bào phát huy vai trò chủ thể trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa của chính mình”.

Theo ông, thời gian qua, Hà Nội đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ. Thành phố đã đầu tư xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa, phục vụ nhu cầu sinh hoạt của đồng bào; đồng thời phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị ghi nhận nhiều loại hình văn hóa là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Xã Yên Bài chú trọng phát triển văn hóa Mường thông qua nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật đặc sắc. Ảnh: Bạch Thanh

Đáng chú ý, mô hình du lịch cộng đồng tại Bản Miến được công bố đã mở ra hướng đi mới, giúp đồng bào vừa bảo tồn văn hóa, vừa phát triển sinh kế. “Thông qua du lịch cộng đồng, người dân có cơ hội quảng bá giá trị văn hóa của mình tới du khách trong và ngoài nước, đồng thời tạo nguồn lực để tái đầu tư cho bảo tồn”, Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ nghệ nhân, người am hiểu văn hóa dân tộc cũng góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng. Theo ông, “yếu tố quan trọng nhất vẫn là ý thức của người dân, bởi họ chính là chủ thể văn hóa”.

Thực tế cho thấy, khi bảo tồn gắn với phát triển kinh tế, các giá trị văn hóa không chỉ được gìn giữ mà còn được “sống” trong đời sống đương đại. Đây chính là hướng đi bền vững mà Hà Nội đang từng bước hiện thực hóa.

Cần những giải pháp cụ thể để bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc thiểu số

Về vấn đề sử dụng và hạn chế trong vấn đề sử dụng ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số, Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường cho rằng: Chúng ta đang thấy còn có những tồn tại, hạn chế không phải chỉ đối với các dân tộc Thủ đô, mà diễn ra trên tất cả các vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Đây là vấn đề mà theo ông rất nguy hiểm, bởi ngôn ngữ thể hiện rõ nhất bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Nhưng hiện nay trong quá trình hội nhập, do quá trình giao lưu và môi trường sử dụng khiến ngôn ngữ bắt đầu bị hạn chế.

Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường giao lưu tại chương trình. Ảnh: Phan Anh

Theo Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường: Một đứa bé người dân tộc thiểu số sau khi lớn lên đi học sẽ phải giữ ngôn ngữ tiếng phổ thông trong quá trình học tập, trong quá trình giao lưu. Do đó, cơ hội để thực hành ngôn ngữ dân tộc sẽ bị hạn chế. Vấn đề thứ hai là sau khi lớn lên, đi học ở các cấp, ngôn ngữ của học sinh, người trẻ của đồng bào dân tộc trong giao tiếp vẫn chủ yếu là tiếng phổ thông. Vì vậy, môi trường sử dụng tiếng dân tộc lại càng ít đi. Thứ ba là chúng ta thấy thời gian và môi trường để sử dụng ngôn ngữ trong gia đình bây giờ cũng đang có tình trạng ít đi. Bởi việc giao tiếp giữa bố mẹ, con cái, ông bà với cháu con đang dần chuyển sang nói bằng tiếng phổ thông.

Một vấn đề đáng quan tâm nữa là một số ngành nghề thủ công truyền thống của các dân tộc số đang có nguy cơ mai một. Ví như ngành dệt, tất cả các dân tộc số đều sử dụng ngành dệt truyền thống. Nhưng để sản xuất ra một sản phẩm dệt của bà con dân tộc thiểu số, đầu tư chi phí rất nhiều, công xá cao, bán giá rất cao. Do đó sự cạnh tranh thị trường làm mất dần đi cái nghề thủ công truyền thống của người dân tộc thiểu số.

“Phong tục tập quán của bà con dân tộc thiểu số đến hiện nay cũng bắt đầu bị giảm, bởi vì môi trường sinh sống của họ bây giờ không phải chỉ là một cộng đồng dân tộc mà bắt đầu có sự xen cư giữa rất nhiều các dân tộc với nhau. Tiếp đến là điều kiện để thực hành các phong tục đó càng ngày càng ít đi. Đó là vấn đề mà chúng ta cần phải có những giải pháp cụ thể để bảo tồn và phát huy”, Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường nhấn mạnh.

Gắn bảo tồn với đời sống thực tiễn và sinh kế của người dân

Theo Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường, để gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số trong bối cảnh hiện đại, điều quan trọng không chỉ là “bảo tồn” theo nghĩa lưu giữ, mà phải tạo ra môi trường để các giá trị ấy tiếp tục được sống, được thực hành và phát triển.

Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường, Trưởng Bộ môn Quản trị du lịch cộng đồng, Khoa Quản trị du lịch và ngôn ngữ quốc tế, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Ảnh: Phan Anh

Trước hết, với ngôn ngữ, yếu tố cốt lõi của bản sắc, cần có những giải pháp đồng bộ và lâu dài. Hiện nay, việc đưa tiếng nói, chữ viết của một số dân tộc thiểu số vào giảng dạy tại các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú là một chủ trương đúng đắn. Tuy nhiên, phạm vi vẫn còn hạn chế.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường, cần mở rộng hơn nữa, đưa ngôn ngữ dân tộc trở thành một nội dung học tập phù hợp tại các trường có đông học sinh là người dân tộc thiểu số. Quan trọng hơn, phải tạo điều kiện để các em được sử dụng ngôn ngữ đó trong thực tế, từ các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ, đến môi trường giao tiếp hàng ngày, từ đó hình thành niềm tự hào và ý thức gìn giữ.

Không chỉ trong nhà trường, việc bảo tồn ngôn ngữ cần bắt đầu từ chính gia đình và cộng đồng. Mỗi gia đình cần khuyến khích con em sử dụng tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hằng ngày. Đồng thời, tại các địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số, cán bộ cơ sở, đặc biệt là những người làm công tác quản lý cũng nên sử dụng hoặc hiểu ngôn ngữ của đồng bào trong giao tiếp. Đây không chỉ là cách thể hiện sự tôn trọng, mà còn góp phần duy trì “đời sống” của ngôn ngữ trong cộng đồng.

Bên cạnh ngôn ngữ, việc bảo tồn các nghề truyền thống cũng là một thách thức lớn. Thực tế cho thấy, nhiều nghề thủ công đang đứng trước nguy cơ mai một không phải vì người dân không muốn giữ nghề, mà vì thiếu đầu ra cho sản phẩm. Do đó, muốn bảo tồn, phải gắn với phát triển kinh tế cần có cơ chế hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, xây dựng thương hiệu, kết nối thị trường, để người dân có thể sống được bằng chính nghề truyền thống của mình. Khi sản xuất gắn với sinh kế thì các giá trị văn hóa được tích hợp trong từng sản phẩm cũng sẽ được gìn giữ một cách tự nhiên và bền vững.

Ngoài ra, việc phát triển du lịch cộng đồng gắn với văn hóa dân tộc cũng là một hướng đi hiệu quả. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, trình diễn, giới thiệu văn hóa, chính người dân trở thành chủ thể bảo tồn và lan tỏa giá trị của mình.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, công tác bảo tồn không thể là nhiệm vụ của riêng ngành văn hóa. Đây phải là sự vào cuộc đồng bộ của nhiều ngành, nhiều cấp, từ giáo dục, du lịch, kinh tế đến chính quyền địa phương và chính cộng đồng. Đồng thời, cần có chiến lược dài hạn, liên tục, tránh tình trạng làm theo phong trào hoặc chỉ trong một giai đoạn ngắn.

Chỉ khi tạo được “đất sống” cho văn hóa – tức là gắn bảo tồn với đời sống thực tiễn và sinh kế của người dân – thì bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số mới có thể được gìn giữ và phát triển một cách bền vững trong lòng Thủ đô hiện đại.

Giữ văn hóa dân tộc theo cách bền vững

Việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số ở Hà Nội đang đối mặt nhiều thách thức trong bối cảnh hội nhập và đô thị hóa mạnh mẽ.

Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Hà Nội Bùi Duy Quang chia sẻ tại chương trình. Ảnh: Phan Anh

Theo ông Bùi Duy Quang, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Hà Nội, thành phố đã triển khai nhiều hoạt động như: Hỗ trợ duy trì lễ hội truyền thống, tổ chức liên hoan cồng chiêng, hát múa dân gian… Tuy nhiên, về lâu dài, việc bảo tồn không chỉ dừng ở “giữ” mà phải hướng tới “giữ bền”.

Theo ông Bùi Duy Quang, nguy cơ mai một văn hóa là thách thức lớn, đòi hỏi những giải pháp căn cơ và lâu dài, thay vì các hoạt động mang tính phong trào. Thời gian tới, Sở Dân tộc và Tôn giáo Hà Nội sẽ tập trung đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu về văn hóa các dân tộc thiểu số nhằm lưu trữ và bảo tồn lâu dài. Đồng thời, công tác bảo tồn sẽ gắn với phát triển sinh kế cho người dân.

Xã Yên Bài chú trọng phát triển văn hóa Mường thông qua nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật đặc sắc. Ảnh: Bạch Thanh

“Chỉ khi đồng bào có thể sống tốt từ chính nghề truyền thống của mình thì di sản văn hóa mới được gìn giữ một cách tự giác và bền vững”, ông Bùi Duy Quang nhấn mạnh.

Hiện, đơn vị đang tham mưu UBND thành phố Hà Nội xây dựng Đề án bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2025 - 2030, dự kiến trình trong tháng 8 tới. “Chúng tôi mong muốn văn hóa không chỉ là ký ức, mà trở thành nguồn lực góp phần phát triển kinh tế và nâng cao thu nhập cho người dân”, ông Bùi Duy Quang khẳng định.

Du lịch gắn với làng nghề: Hướng đi bền vững cho sinh kế từ di sản

Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường, Trưởng Bộ môn Quản trị du lịch cộng đồng, Khoa Quản trị du lịch và ngôn ngữ quốc tế, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội cho rằng từ thực tiễn nghiên cứu và giảng dạy, mô hình phát triển sinh kế dựa trên di sản văn hóa, đặc biệt là gắn du lịch với làng nghề truyền thống, là một hướng đi rất hiệu quả và bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Hợp tác xã thảo dược dân tộc Dao Phượng Huệ xã Ba Vì phát triển, bảo tồn nhiều bài thuốc của người Dao. Ảnh: Bạch Thanh

Trường hợp nghề làm thuốc nam của người Dao ở Ba Vì là một ví dụ tiêu biểu. Ở đây, giá trị không chỉ nằm ở sản phẩm thuốc mà còn ở tri thức dân gian, kinh nghiệm chữa bệnh, cũng như không gian văn hóa gắn với đời sống của cộng đồng. Khi được kết hợp với du lịch, những yếu tố này trở thành “tài nguyên” đặc biệt, tạo sức hút riêng mà không nơi nào có được.

Thực tế cho thấy khi du lịch phát triển gắn với làng nghề, người dân không chỉ có thêm thu nhập từ việc bán sản phẩm, mà còn từ các dịch vụ trải nghiệm như: Giới thiệu quy trình sản xuất, chăm sóc sức khỏe bằng bài thuốc truyền thống, hay kể câu chuyện văn hóa của dân tộc mình. Điều này giúp nâng cao giá trị sản phẩm, đồng thời giữ gìn được tri thức và bản sắc vốn có.

Người dân xã Ba Vì bảo tồn, phát triển nhiều bài thuốc của người Dao. Ảnh: Bạch Thanh

Không chỉ riêng nghề thuốc nam, nhiều làng nghề khác của đồng bào dân tộc thiểu số cũng hoàn toàn có thể phát triển theo hướng này. Khi sản phẩm gắn với câu chuyện văn hóa và được đưa vào chuỗi giá trị du lịch, giá trị kinh tế sẽ được nâng lên, tạo động lực để người dân tiếp tục duy trì và phát triển nghề truyền thống.

Quan trọng hơn, mô hình này giúp giải quyết hài hòa giữa bảo tồn và phát triển. Người dân không còn đứng trước lựa chọn “giữ nghề hay bỏ nghề”, mà có thể sống được bằng chính di sản của mình. Đồng thời, thông qua hoạt động du lịch, bản sắc văn hóa cũng được quảng bá rộng rãi hơn đến cộng đồng và du khách.

Vì vậy, có thể khẳng định, du lịch văn hóa gắn với làng nghề không chỉ là giải pháp sinh kế, mà còn là một chiến lược lâu dài để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số trong bối cảnh hiện nay.

Cần xây dựng mô hình lưu giữ được tinh hoa bản sắc

Hiện nay, các xã đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của Thủ đô như: Suối Hai, Ba Vì, Yên Bài, Yên Xuân, Mỹ Đức đã và đang hình thành nhiều mô hình sinh kế dựa trên nền tảng di sản và làng nghề truyền thống. Theo Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Hà Nội Bùi Duy Quang, các mô hình này phát triển khá đa dạng, từ du lịch cộng đồng, trải nghiệm văn hóa đến các sản phẩm đặc thù như nghề thuốc nam của người Dao.

Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Hà Nội Bùi Duy Quang. Ảnh: Phan Anh

Năm 2024, Hà Nội đã công bố mô hình du lịch cộng đồng “Điểm đến du lịch cộng đồng bản Miền” tại xã Ba Vì, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc Dao trên địa bàn.

Tuy nhiên, ở góc độ quản lý nhà nước, ông Bùi Duy Quang cho rằng, không phải mô hình nào cũng đạt hiệu quả như kỳ vọng. Những mô hình thành công thực sự phải là nơi người dân lưu giữ được tinh hoa bản sắc độc đáo, tránh thương mại hóa quá mức, đồng thời có sự kết nối bài bản với thị trường. Theo ông Quang, thực tế vẫn còn những địa phương phát triển theo phong trào, thiếu tính bền vững và chưa phát huy hết nguồn lực nội sinh từ chính cộng đồng.

Phải cân bằng giữa bảo tồn và phát huy

Theo Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường, để các mô hình bảo tồn và phát huy văn hóa vận hành bài bản, đúng hướng, yếu tố then chốt là định hướng. Ông cho rằng, Nghị quyết 80 được xác định là định hướng mang tính bao quát, tạo tiền đề cho việc gắn kết giữa bảo tồn, phát huy văn hóa với phát triển kinh tế. “Trong định hướng này, con người giữ vị trí trung tâm, vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là người thụ hưởng, đồng thời quyết định tính bền vững của các giá trị văn hóa” - chuyên gia nhấn mạnh.

Cùng với đó, việc gắn chặt với cộng đồng cư dân tại chỗ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Chính cộng đồng là môi trường nuôi dưỡng, gìn giữ và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống. Một yêu cầu đặt ra là không chỉ dừng lại ở bảo tồn, mà phải gắn bảo tồn với phát triển kinh tế thông qua khai thác hợp lý các giá trị văn hóa. Tuy nhiên, việc khai thác cần có chọn lọc, xác định rõ những nội dung có thể triển khai ngay và những nội dung cần đầu tư lâu dài.

Bên cạnh đó, cần chú trọng xây dựng sản phẩm văn hóa gắn với thương hiệu, hướng tới phát triển công nghiệp văn hóa. Văn hóa không tồn tại độc lập mà cần được liên kết với du lịch, kinh tế và các lĩnh vực khác để hình thành chuỗi giá trị. Trong đó, xây dựng và duy trì thương hiệu văn hóa giữ vai trò then chốt, góp phần lan tỏa và nâng cao giá trị văn hóa một cách bền vững.

Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường cũng nhấn mạnh, một nội dung quan trọng khác là đẩy mạnh số hóa các hoạt động văn hóa. “Số hóa không chỉ giúp lưu giữ lâu dài mà còn mở rộng khả năng quảng bá tới công chúng trong và ngoài nước. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, cần xây dựng môi trường và không gian phù hợp cho quá trình này”, ông Cường nói.

Về giải pháp, bên cạnh chủ trương, chính sách đúng đắn, yếu tố con người vẫn giữ vai trò quyết định. Cần có đội ngũ am hiểu, tâm huyết, sẵn sàng vượt qua khó khăn trong quá trình triển khai. Đồng thời công tác tuyên truyền cần được đẩy mạnh nhằm nâng cao nhận thức của người dân - chủ thể văn hóa - bởi nếu thiếu sự tham gia của người dân, các chính sách sẽ khó đạt hiệu quả.

Chuyên gia này cũng khẳng định, việc cân bằng giữa bảo tồn và phát huy là yêu cầu xuyên suốt để vận hành hiệu quả và bền vững những mô hình phát huy bảo tồn văn hóa và phát triển sinh kế cho đồng bào. “Nếu chỉ chú trọng bảo tồn sẽ thiếu nguồn lực, còn nếu chỉ tập trung phát triển, bản sắc văn hóa dễ bị mai một. Do đó, cần sự phối hợp giữa các nhà nghiên cứu, cơ quan quản lý và chính cộng đồng để lựa chọn giải pháp phù hợp với từng địa phương, từng dân tộc, hướng tới phát triển bền vững”, Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường bày tỏ quan điểm.

Hiện thực hóa các sản phẩm công nghiệp văn hóa đặc thù

Liên quan đến việc hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam vào công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số theo hướng bền vững trong giai đoạn mới, ông Bùi Duy Quang cho biết: "Chúng tôi rất quan tâm đến vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số. Đây là một vấn đề mà không phải là chỉ một đơn vị về văn hóa cần quan tâm, mà phải có sự tham gia của rất nhiều các cơ quan, đoàn thể thông qua những hoạt động mang tính chất cụ thể, từ đó tạo ra những môi trường và không gian".

Các khách mời chụp ảnh lưu niệm tại chương trình. Ảnh: Phan Anh

Ông Bùi Duy Quang khẳng định: Với vai trò là cơ quan tham mưu chuyên trách, Sở Dân tộc và Tôn giáo Hà Nội sẽ tập trung vào việc hiện thực hóa các sản phẩm công nghiệp văn hóa đặc thù của vùng đồng bào dân tộc thiểu số; xây dựng các cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư vào hạ tầng du lịch vùng núi, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa bảo tồn di sản với bảo vệ môi trường và trật tự an ninh - xã hội.

Đề án bảo tồn bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2025-2030 sẽ có những mô hình thực tế, hiệu quả trong thời gian tới. Trong đó, đặc biệt chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc có trình độ, kỹ năng nhằm hỗ trợ bà con. Điều này, góp phần giúp đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ ấm no về kinh tế, mà còn có một không gian văn hóa đặc sắc, góp phần xứng đáng vào vị thế của Thủ đô văn hiến - văn minh - hiện đại.

Nhóm Phóng viên

TIN LIÊN QUAN





















Home Icon VỀ TRANG CHỦ