🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Văn chương không đứng ngoài vận mệnh dân tộc

1 giờ trước
Những tranh luận gần đây quanh Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh và việc xử lý cuốn Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng của tác giả Nguyễn Thành Nam không chỉ là câu chuyện riêng của hai cuốn sách, cũng không chỉ là những ý kiến khác nhau trong đời sống văn học, xuất bản.

Từ những sự việc ấy, một vấn đề lớn hơn được đặt ra: Sáng tạo văn học, nghệ thuật ở Việt Nam cần được nhìn nhận trong bối cảnh văn hóa, lịch sử, chính trị Việt Nam; ở đó, tự do sáng tạo luôn phải đi cùng trách nhiệm xã hội, trách nhiệm với sự thật lịch sử, với đạo lý dân tộc và với những biểu tượng thiêng liêng đã được Nhân dân trân trọng, gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Tự do sáng tạo không thể tách khỏi mạch nguồn “văn dĩ tải đạo”

Văn học, nghệ thuật bao giờ cũng cần tự do. Không có tự do, sáng tạo dễ trở thành minh họa khô cứng. Không có cá tính, tác phẩm khó có đời sống riêng. Không có những tìm tòi mới, văn chương dễ tự lặp lại mình. Nhưng trong truyền thống văn hóa Việt Nam, tự do sáng tạo chưa bao giờ được hiểu là sự tùy tiện, càng không phải là quyền đứng ngoài lịch sử, đứng ngoài đạo lý, đứng ngoài những giá trị nền tảng làm nên bản sắc và sức mạnh tinh thần của dân tộc.

Ông cha ta từ lâu đã quan niệm “văn dĩ tải đạo”. Văn chương chuyên chở đạo lý. Nghệ thuật nuôi dưỡng nhân tâm. Cái đẹp không tách khỏi cái thiện. Cái mới không được phép quay lưng với cái đúng. Một áng văn hay không chỉ làm người đọc rung động trước vẻ đẹp của ngôn từ, mà còn giúp con người hướng thiện hơn, sống nhân ái hơn, có trách nhiệm hơn với gia đình, cộng đồng, Tổ quốc và lịch sử dân tộc.

Đây không phải là một quan niệm cũ kỹ để trói buộc sáng tạo. Trái lại, đó là một cách nhìn rất sâu về chức năng xã hội của văn học, nghệ thuật. Bởi chữ nghĩa không vô can. Hình tượng không vô can. Một cuốn sách, một vở diễn, một bộ phim, một tác phẩm nghệ thuật khi bước ra xã hội đều tham gia vào quá trình hình thành nhận thức, thái độ, cảm xúc và niềm tin của công chúng. Nghệ thuật có thể an ủi, khai sáng, thức tỉnh, đoàn kết; nhưng nếu thiếu trách nhiệm, nó cũng có thể gây nhiễu loạn, làm tổn thương, gieo hoài nghi, chia rẽ và làm xói mòn những giá trị chung.

Ảnh minh họa. Nguồn: HNMO

Trong đời sống truyền thống của người Việt, ý thức tôn kính những giá trị thiêng liêng đã thấm vào từng nếp ăn, nếp ở, nếp nghĩ. Trong gia đình, nhiều người giữ thói quen kiêng đặt tên con trùng với tên cha mẹ, ông bà, tổ tiên, hoặc những người được kính trọng trong dòng họ, trong cộng đồng. Trong xã hội xưa, việc tránh gọi tên húy, tên vua, tên những bậc được tôn kính không chỉ là lễ nghi ngôn từ, mà còn là biểu hiện của một nền văn hóa coi trọng sự cung kính, lòng biết ơn, trật tự đạo lý và ký ức cộng đồng.

Tất nhiên, xã hội hôm nay đã khác. Văn học, nghệ thuật hiện đại có nhiều không gian biểu đạt hơn, nhiều hình thức thể hiện hơn, nhiều giọng nói cá nhân hơn. Người viết có thể đi vào thân phận, nỗi đau, bi kịch, sự mất mát, những day dứt hậu chiến, thậm chí cả những vùng tối của lịch sử và đời sống. Nghệ thuật không chỉ ca ngợi, mà còn phản tỉnh; không chỉ khẳng định, mà còn chất vấn; không chỉ hướng tới cái cao cả, mà còn soi chiếu những mâu thuẫn, phức tạp, đổ vỡ trong con người.

Nhưng càng trong bối cảnh tự do biểu đạt được mở rộng, trách nhiệm của người sáng tạo càng phải được đặt ra nghiêm túc hơn. Một cách diễn đạt thiếu chuẩn mực về lịch sử có thể gây tổn thương. Một nhận định thiếu căn cứ về nhân vật lịch sử có thể làm lệch lạc nhận thức. Một cách “giải thiêng” cực đoan có thể không làm lịch sử sáng rõ hơn, mà chỉ tạo ra hoài nghi, chia rẽ và những khoảng trống niềm tin.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Câu nói ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Mặt trận văn hóa, nghệ thuật không phải là nơi làm nghèo sáng tạo, mà là nơi người nghệ sĩ ý thức sâu sắc rằng tác phẩm của mình có thể góp phần bồi đắp hoặc làm suy giảm sức mạnh tinh thần của dân tộc. Người nghệ sĩ là chiến sĩ không phải vì văn chương phải biến thành khẩu hiệu, mà vì văn chương cần đứng về phía sự thật, cái đẹp, cái thiện, Nhân dân và Tổ quốc.

Từ góc nhìn ấy, khi văn học, nghệ thuật chạm đến những chủ đề nhạy cảm như chiến tranh cách mạng, lãnh tụ, anh hùng dân tộc, các biểu tượng văn hóa, ký ức thiêng liêng của cộng đồng, người sáng tạo càng phải tự đặt cho mình những giới hạn đạo đức và giới hạn tri thức. Không thể nhân danh hư cấu để phủ định sự thật. Không thể nhân danh cá tính để xúc phạm niềm tin chung. Không thể nhân danh đổi mới để làm tổn thương những giá trị mà nhiều thế hệ đã đánh đổi bằng máu xương, nước mắt và sự hy sinh.

Khi văn chương chạm vào lịch sử, ranh giới trách nhiệm càng phải rõ ràng

Hai sự việc liên quan đến Nỗi buồn chiến tranhChuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng cần được nhìn nhận thận trọng, công bằng, không đánh đồng, không cực đoan, nhưng cũng không né tránh những vấn đề tư tưởng, văn hóa, xã hội đặt ra từ đó.

Nỗi buồn chiến tranh là một tác phẩm đã có đời sống tiếp nhận kéo dài, phức tạp, nhiều chiều. Có người nhìn nhận tác phẩm như một nỗ lực viết về thân phận con người sau chiến tranh, về mất mát, ám ảnh và những vết thương tinh thần. Cũng có người băn khoăn về cách tác phẩm thể hiện chiến tranh, về cảm quan bi kịch, về khả năng tạo ra những diễn giải khác nhau trong nhận thức của người đọc đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc. Tranh luận về một tác phẩm là bình thường, thậm chí cần thiết, nếu tranh luận ấy dựa trên tinh thần học thuật, văn hóa và trách nhiệm.

Vấn đề đáng suy nghĩ ở đây không phải là có cho phép một tác phẩm tồn tại trong đời sống văn học hay không. Một nền văn học trưởng thành cần có nhiều giọng điệu, nhiều cách tiếp cận, nhiều tầng nấc cảm xúc. Nhưng việc một tác phẩm được đọc, được nghiên cứu, được tranh luận khác với việc một tác phẩm được tôn vinh như một đại diện tiêu biểu trong một danh sách chính thức, mang ý nghĩa tổng kết thành tựu quốc gia sau ngày đất nước thống nhất.

Khi bước vào không gian tôn vinh ấy, tác phẩm không chỉ được đánh giá bằng tiêu chí nghệ thuật thuần túy, mà còn phải được cân nhắc trong quan hệ với ký ức lịch sử, cảm nhận xã hội, sự đồng thuận cộng đồng và trách nhiệm biểu tượng. Một tác phẩm có thể có giá trị nghệ thuật, nhưng sự vinh danh chính thức luôn gửi đi thông điệp về hệ giá trị mà xã hội lựa chọn đề cao. Vì vậy, càng ở những dịp tổng kết lớn của đất nước, càng cần sự thận trọng, toàn diện, khách quan và đồng thuận.

Với Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng, vấn đề lại nghiêm trọng hơn ở bình diện xuất bản và chuẩn mực lịch sử. Khi một cuốn sách bị cơ quan quản lý xác định có nội dung sai sự thật nghiêm trọng, có một số thông tin, nhận định không chính xác về nhân vật, sự kiện lịch sử, đồng thời sử dụng ngôn ngữ chưa phù hợp khi viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số lãnh đạo tiền bối của Đảng, thì đó không còn là tranh luận thẩm mỹ thông thường. Đó là lời cảnh báo về trách nhiệm của tác giả, biên tập viên, nhà xuất bản và cơ quan chủ quản trong việc bảo đảm sự chuẩn xác, nghiêm cẩn, nhất là đối với những nội dung liên quan đến lãnh tụ, lịch sử cách mạng và nền tảng tinh thần của quốc gia.

Lịch sử không sợ đối thoại. Những nhân vật lớn của dân tộc không cần được bảo vệ bằng sự né tránh nghiên cứu. Nhưng nghiên cứu lịch sử phải dựa trên tư liệu xác thực, phương pháp nghiêm túc, thái độ khoa học và sự kính trọng cần thiết. Hư cấu văn học có quyền tưởng tượng, nhưng không có quyền làm sai lệch sự thật cốt lõi. Phê bình có quyền đặt vấn đề, nhưng không có quyền tầm thường hóa biểu tượng. Sáng tạo có quyền tìm lối đi riêng, nhưng không thể biến những điều thiêng liêng trong tâm thức Nhân dân thành chất liệu tùy tiện cho những thử nghiệm thiếu kiểm chứng.

Đây chính là ranh giới rất quan trọng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thường không chỉ tấn công trực diện bằng những luận điệu chống phá lộ liễu. Họ còn lợi dụng các vấn đề văn hóa, văn học, nghệ thuật để gieo nghi ngờ về lịch sử cách mạng, làm phai nhạt lý tưởng, làm mờ ranh giới giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa hy sinh và vô nghĩa, giữa biểu tượng cao đẹp và cách diễn giải dung tục.

Khi một tác phẩm, một cuốn sách, một sản phẩm văn hóa tạo ra khoảng trống nhận thức hoặc sự nhiễu loạn giá trị, lập tức khoảng trống ấy có thể bị lợi dụng để thúc đẩy “diễn biến hòa bình” trên mặt trận tư tưởng. Vì vậy, đấu tranh ở đây không phải là cấm đoán cực đoan hay quy chụp giản đơn. Đấu tranh trước hết là làm rõ đúng – sai, thật – giả, chuẩn mực – lệch chuẩn bằng lý lẽ, bằng tri thức, bằng pháp luật và bằng bản lĩnh văn hóa.

Đấu tranh là bảo vệ quyền sáng tạo chân chính, đồng thời phê phán những biểu hiện nhân danh sáng tạo để làm tổn thương lịch sử. Đấu tranh là khẳng định rằng văn học, nghệ thuật Việt Nam có thể hiện đại, cởi mở, đa dạng, nhưng không thể xa rời nền tảng dân tộc, nhân văn, yêu nước và tiến bộ. Một xã hội tự tin không ngại tranh luận. Nhưng một xã hội có trách nhiệm không thể để mọi sự xúc phạm được khoác áo “cách nhìn khác”, mọi sai lệch được bao biện bằng “hư cấu”, mọi hoài nghi cực đoan được nâng lên thành “can đảm nghệ thuật”.

Tự do sáng tạo cần được bảo vệ. Nhưng niềm tin lịch sử của Nhân dân, danh dự của lãnh tụ, anh hùng dân tộc và các biểu tượng văn hóa cũng cần được bảo vệ bằng thái độ nghiêm cẩn không kém.

Kỷ nguyên phát triển mới cần đồng thuận, không cần những “lãng tâm” làm suy yếu niềm tin xã hội

Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với khát vọng rất lớn: Xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, văn minh, hạnh phúc; phát huy sức mạnh con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam; tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản trị; đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đưa đất nước vươn lên bằng ý chí tự cường và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong bối cảnh ấy, điều đất nước cần là sự chung sức, đồng lòng, niềm tin, trách nhiệm và khát vọng. Chúng ta cần những tác phẩm văn học, nghệ thuật giúp con người Việt Nam hiểu sâu hơn về lịch sử dân tộc, tự hào hơn về con đường mình đã đi qua, nhân văn hơn trong ứng xử với quá khứ, mạnh mẽ hơn trong kiến tạo tương lai. Chúng ta cần những cuốn sách mở rộng tri thức, làm giàu tâm hồn, bồi đắp bản lĩnh văn hóa. Chúng ta cần những cuộc tranh luận có chất lượng, có căn cứ, có văn hóa, để xã hội cùng trưởng thành trong nhận thức.

Điều đất nước không cần là những tranh luận cực đoan, thiếu cơ sở, lấy việc xét lại quá khứ làm phương tiện gây chia rẽ hiện tại; lấy sự xúc phạm biểu tượng làm cách gây chú ý; lấy cái gọi là “giải thiêng” để phủ nhận công lao, sự hy sinh, những giá trị đã được kiểm chứng bằng lịch sử. Một dân tộc từng trải qua chiến tranh, mất mát, chia cắt, hy sinh hơn ai hết hiểu rằng ký ức lịch sử không thể bị đối xử nhẹ dạ. Đằng sau mỗi chiến thắng là máu xương. Đằng sau mỗi biểu tượng là niềm tin. Đằng sau mỗi tên tuổi lớn của dân tộc là cả một di sản tinh thần được Nhân dân gìn giữ.

Không thể vì một vài diễn giải chủ quan mà làm rối loạn cảm nhận xã hội về quá khứ. Không thể vì những tìm tòi thiếu chuẩn mực mà tạo ra những “lãng tâm” không cần thiết trong đời sống tinh thần. Khi đất nước đang cần tập trung nguồn lực cho phát triển, đang cần củng cố đồng thuận để thực hiện những mục tiêu lớn, mọi sự gây nhiễu có chủ ý hoặc vô ý trên mặt trận tư tưởng đều cần được nhận diện, phản biện và xử lý phù hợp.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật vì thế không phải là việc riêng của cơ quan quản lý, càng không phải là công việc chỉ diễn ra sau khi có vụ việc. Đó phải là ý thức thường trực của cả hệ sinh thái sáng tạo: người viết, người biên tập, nhà xuất bản, hội nghề nghiệp, cơ quan phê bình, báo chí, nhà trường và công chúng. Người sáng tạo cần tự nâng cao trách nhiệm văn hóa. Nhà xuất bản cần siết chặt quy trình thẩm định, đặc biệt với những nội dung liên quan đến lịch sử, lãnh tụ, nhân vật tiền bối, chiến tranh cách mạng và biểu tượng quốc gia. Phê bình văn học cần lên tiếng kịp thời, có học thuật, có lý lẽ, không để mạng xã hội trở thành nơi duy nhất định hướng cảm xúc đám đông. Cơ quan quản lý cần minh bạch tiêu chí, chủ động đối thoại, xử lý nghiêm nhưng cũng thuyết phục, để kỷ cương đi cùng niềm tin.

Về phía công chúng, cũng cần một năng lực tiếp nhận văn hóa tỉnh táo. Không phải cứ gây sốc là mới. Không phải cứ phủ định là sâu sắc. Không phải cứ hoài nghi là tiến bộ. Một xã hội hiện đại cần biết tôn trọng đa dạng quan điểm, nhưng cũng phải có khả năng phân biệt giữa phản biện xây dựng và phủ định cực đoan, giữa sáng tạo có trách nhiệm và sự tùy tiện nguy hiểm, giữa nhìn lại lịch sử để hiểu dân tộc sâu hơn và bóp méo lịch sử để làm suy yếu niềm tin dân tộc.

Sâu xa hơn, những sự việc như Nỗi buồn chiến tranhChuyện với Thanh Lời kể mới về ánh sáng nhắc chúng ta về yêu cầu xây dựng một nền văn hóa phê bình lành mạnh. Nếu không có phê bình nghiêm túc, đời sống văn học dễ rơi vào hai cực đoan: Hoặc tung hô dễ dãi, hoặc lên án cảm tính. Cả hai đều không có lợi cho sáng tạo. Phê bình nghiêm túc giúp tác phẩm được đặt đúng chỗ, giúp công chúng có thêm tiêu chí tiếp nhận, giúp cơ quan quản lý có thêm luận cứ, giúp người sáng tạo nhận ra ranh giới giữa tự do nghệ thuật và trách nhiệm xã hội.

Một nền văn học lớn không né tránh nỗi đau của dân tộc. Nhưng một nền văn học lớn cũng không biến nỗi đau ấy thành cớ để làm suy yếu niềm tin dân tộc. Một nền nghệ thuật hiện đại không sợ những tìm tòi mới. Nhưng một nền nghệ thuật hiện đại càng phải hiểu rằng cái mới chỉ thật sự có giá trị khi nó làm giàu thêm đời sống tinh thần của con người, chứ không làm nghèo đi đạo lý, ký ức và lòng biết ơn.

Lịch sử Việt Nam đã đi qua quá nhiều thử thách để có độc lập, thống nhất, hòa bình và phát triển hôm nay. Những biểu tượng văn hóa, những anh hùng dân tộc, những lãnh tụ tiền bối, những thế hệ đã hy sinh vì Tổ quốc không phải là chất liệu vô tri để bất cứ ai cũng có thể tùy tiện phán xét, nhào nặn, tầm thường hóa. Đó là phần thiêng liêng trong căn cước tinh thần của dân tộc. Chạm vào đó, văn chương phải chạm bằng tri thức, bằng tài năng, bằng sự khiêm nhường và bằng lòng tôn kính.

Trong kỷ nguyên phát triển mới, văn học, nghệ thuật càng cần đi đầu trong việc khơi dậy khát vọng Việt Nam. Đó là khát vọng của một dân tộc biết nhớ quá khứ nhưng không bị quá khứ níu chân; biết tôn trọng khác biệt nhưng không đánh mất chuẩn mực; biết mở cửa với thế giới nhưng không mơ hồ về bản sắc; biết tự do sáng tạo nhưng không quên trách nhiệm với Nhân dân, với Đảng, với Tổ quốc.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên mặt trận văn hóa, văn học, nghệ thuật chính là bảo vệ chiều sâu tinh thần của quốc gia. Đó không phải là sự khép lại của sáng tạo, mà là điều kiện để sáng tạo đi đúng hướng: nhân văn hơn, dân tộc hơn, hiện đại hơn và có trách nhiệm hơn. Khi chữ nghĩa biết đứng về phía sự thật lịch sử, đạo lý dân tộc và khát vọng phát triển của đất nước, văn chương không chỉ làm đẹp đời sống tinh thần, mà còn trở thành một sức mạnh mềm bảo vệ Tổ quốc từ bên trong, từ chiều sâu bền vững nhất của niềm tin.

NGÔ MAI


















Home Icon VỀ TRANG CHỦ