🔍
Chuyên mục: Tài chính

Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga: Chính sách thuế tốt không phải 'nới' nhiều hay ít mà cần đúng đối tượng

12 giờ trước
Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt. Trong đó, điểm nhấn là thay vì 'chốt cứng' ngưỡng doanh thu phải nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng với cá nhân, hộ kinh doanh có doanh thu vượt 500 triệu đồng/năm như trước thì Quốc hội giao Chính phủ chủ động điều chỉnh theo thực tiễn. Xung quanh vấn đề này, phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội đã có cuộc trao đổi với Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách thành phố Hải Phòng, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga.

Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga. Ảnh: Quochoi.vn

Chính sách linh hoạt nhưng vẫn có kiểm soát

- Thưa bà, việc giao Chính phủ quy định ngưỡng doanh thu miễn thuế đối với hộ kinh doanh được kỳ vọng tạo tính linh hoạt, nhưng liệu có làm giảm vai trò quyết định của Quốc hội trong chính sách thuế?

- Theo tôi, cần nhìn vấn đề này thật rạch ròi để tránh hai cách hiểu cực đoan. Một là, giữ mọi con số cứng trong luật, khiến chính sách phản ứng chậm với thực tiễn. Hai là, giao quyền quá rộng, làm mờ vai trò quyết định của Quốc hội trong lĩnh vực thuế. Thực tế, Quốc hội vẫn là cơ quan có thẩm quyền quyết định chính sách cơ bản về tài chính quốc gia, quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các sắc thuế. Chính vì vậy, nếu giao Chính phủ quy định ngưỡng doanh thu thì đó chỉ có thể là ủy quyền trong khuôn khổ luật định, chứ không phải chuyển thẩm quyền lập pháp từ Quốc hội sang Chính phủ.

Điểm tích cực là hồ sơ dự thảo luật sau tiếp thu đã có bước chỉnh quan trọng. Nếu ở dự thảo ban đầu, cách viết chủ yếu là “theo mức quy định của Chính phủ”, thì ở bản sau tiếp thu, giải trình, Điều 1 và Điều 2 đã bổ sung nguyên tắc: Chính phủ quy định mức doanh thu năm căn cứ bối cảnh kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Điều này cho thấy, Quốc hội vẫn quyết định khung chính sách, còn Chính phủ được giao xử lý phần biến động để bảo đảm tính kịp thời trong điều hành.

Tuy nhiên, để không làm giảm vai trò của Quốc hội, theo tôi, cần thêm hai “van an toàn”. Thứ nhất, luật hoặc ít nhất hồ sơ giải trình phải làm rõ hơn các căn cứ điều chỉnh như: Mặt bằng giá cả, sức mua, chi phí đầu vào, khả năng cân đối ngân sách và mục tiêu nuôi dưỡng nguồn thu. Thứ hai, khi Chính phủ điều chỉnh ngưỡng, cần có cơ chế báo cáo với Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Như vậy, linh hoạt nhưng vẫn có kiểm soát, điều hành và vẫn giữ được yếu tố giám sát tối cao.

- Đề xuất áp ngưỡng doanh thu 1 tỷ đồng/năm để miễn thuế đang nhận được nhiều ý kiến trái chiều, bà đánh giá mức này đã phù hợp với thực tiễn kinh doanh hiện nay chưa?

- Tôi cho rằng chưa nên trả lời theo kiểu tuyệt đối là “cao quá” hay “thấp quá”, mà phải đặt con số 1 tỷ đồng/năm vào đúng bản chất của khu vực hộ kinh doanh hiện nay. Doanh thu không phải là phần thu nhập thực còn lại sau khi trừ chi phí. Một hộ kinh doanh có doanh thu 1 tỷ đồng nhưng hoạt động trong lĩnh vực biên lợi nhuận mỏng, chi phí đầu vào lớn, quay vòng nhanh, thì phần tích lũy thực tế có thể không cao. Ngược lại, cũng có ngành doanh thu không lớn nhưng tỷ suất lợi nhuận rất tốt.

Vì vậy, nếu chỉ nhìn vào một con số danh nghĩa mà không phân tích cấu trúc chi phí, đặc điểm ngành nghề và biến động giá cả hiện nay thì rất dễ kết luận cảm tính.

Nếu xét ở góc độ thực tiễn, mức 1 tỷ đồng/năm có thể tạo ra tác dụng hỗ trợ đáng kể đối với một bộ phận hộ kinh doanh nhỏ và trung bình thấp, trong bối cảnh chi phí mặt bằng, vốn, logistics và nguyên liệu đều tăng.

Tuy nhiên, nếu nâng ngưỡng lên 1 tỷ đồng/năm thì phải trả lời được 3 câu hỏi. Một là, nhóm nào thực sự được hưởng lợi và mức hỗ trợ có trúng đối tượng không? Hai là, tác động giảm thu ngân sách là bao nhiêu và có được bù đắp bằng hiệu ứng nuôi dưỡng nguồn thu trong trung hạn hay không? Ba là, liệu ngưỡng này có tạo ra động cơ để nhiều hộ kinh doanh cố giữ mình ở quy mô hộ thay vì chuyển lên doanh nghiệp hay không? Hồ sơ giải trình của Chính phủ cũng xác định rất rõ rằng, khi ban hành mức cụ thể phải cân nhắc đồng thời tác động đến hộ kinh doanh, tăng trưởng và cân đối ngân sách.

Cần có công cụ kiểm soát để chống lợi dụng chính sách

Cán bộ Thuế cơ sở 11 hướng dẫn hộ kinh doanh khai và thực hiện các thủ tục thuế tại phường Việt Hưng. Ảnh: Nha Trang

- Bà đánh giá như thế nào về rủi ro phát sinh tình trạng “chia nhỏ” hộ kinh doanh để “né” ngưỡng chịu thuế?

- Theo tôi, đây là rủi ro hoàn toàn có thật và phải được nhìn nhận như một nguy cơ chính sách ngay từ đầu. Càng nâng ngưỡng doanh thu, càng mở rộng diện miễn hoặc không chịu thuế, thì động cơ chia nhỏ hộ kinh doanh càng lớn. Có thể xuất hiện những hình thức như: Tách địa điểm kinh doanh trên danh nghĩa, đứng tên nhiều thành viên trong gia đình, chia đơn hàng, chia dòng tiền, chia tài khoản thanh toán, hoặc tách hoạt động giữa kênh trực tiếp và kênh số để mỗi phần đều nằm dưới ngưỡng. Khi đó, chính sách hỗ trợ người kinh doanh nhỏ có thể bị biến thành kẽ hở.

Điều rất đáng lưu ý là không chỉ đại biểu Quốc hội hay cơ quan thẩm tra băn khoăn về rủi ro này. Ngay trong báo cáo thẩm định, Bộ Tư pháp cũng đã nêu thẳng về nguy cơ che giấu doanh thu, thao túng thời điểm xác định doanh thu, chia nhỏ doanh nghiệp để né nghĩa vụ tài chính. Dù nhận xét này được nêu trực tiếp với Điều 3, nhưng về logic quản lý, rủi ro đối với hộ kinh doanh cũng tương tự như vậy.

Bối cảnh hiện nay vừa là thách thức, vừa là cơ hội. Điểm cốt lõi là phải thay đổi tư duy từ “quản lý theo từng hộ độc lập” sang “quản lý theo thực thể kinh doanh thực tế”. Miễn thuế là một chính sách hỗ trợ cần thiết, nhưng càng nhân văn thì càng phải đi kèm công cụ chống lợi dụng. Nếu không, đối tượng chịu thiệt sẽ là những hộ kinh doanh tuân thủ nghiêm túc và ngân sách nhà nước.

- Để kiểm soát hiệu quả sau khi ban hành ngưỡng doanh thu chịu thuế cần thiết kế cơ chế giám sát, kiểm soát ra sao để bảo đảm đúng mục tiêu hỗ trợ người dân, không bị lợi dụng làm thất thu ngân sách nhà nước, thưa bà?

- Theo tôi, muốn chính sách này đi đúng mục tiêu thì phải thiết kế đồng thời ba tầng kiểm soát, đó là: Kiểm soát ngay trong luật, kiểm soát trong tổ chức thực hiện và kiểm soát bằng giám sát hậu kiểm.

Tầng thứ nhất là kiểm soát ngay trong luật và văn bản hướng dẫn. Dự thảo luật sau tiếp thu đã bổ sung nguyên tắc “Chính phủ quy định mức doanh thu năm căn cứ bối cảnh kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ”. Theo tôi, chừng đó vẫn chưa đủ. Cần cụ thể hơn các căn cứ như chỉ số giá, sức mua, chi phí đầu vào, mức sống, khả năng cân đối ngân sách và mục tiêu nuôi dưỡng nguồn thu. Khi tiêu chí đủ rõ thì việc điều chỉnh ngưỡng mới minh bạch...

Tầng thứ hai, kiểm soát bằng dữ liệu và công nghệ trong quá trình thực thi. Không thể chống chia nhỏ doanh thu bằng cách kiểm tra thủ công đơn lẻ. Phải kết nối dữ liệu hóa đơn điện tử, dòng tiền ngân hàng, trung gian thanh toán, sàn thương mại điện tử, dữ liệu đăng ký kinh doanh và dữ liệu địa điểm kinh doanh để xây dựng hồ sơ rủi ro. Cơ quan thuế phải có bộ chỉ báo nhận diện các trường hợp hộ kinh doanh có dấu hiệu bất thường về người điều hành, số điện thoại, tài khoản nhận tiền, địa chỉ giao hàng, nguồn hàng hoặc nhãn hiệu. Đây mới là cách quản lý phù hợp với nền kinh tế số. Hồ sơ dự án luật cũng cho thấy cơ quan soạn thảo đang dựa vào hướng tiếp cận quản lý rủi ro này.

Tầng thứ ba, giám sát hậu kiểm và trách nhiệm giải trình. Theo tôi, khi Chính phủ điều chỉnh ngưỡng doanh thu thì cần có nghĩa vụ báo cáo định kỳ với Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Quốc hội về số lượng đối tượng được hưởng, tác động thực tế đến thu ngân sách và tình hình lợi dụng chính sách. Nếu sau một thời gian thực hiện phát hiện mức ngưỡng đang tạo ra sai lệch lớn thì phải điều chỉnh kịp thời.

- Để gắn chính sách miễn thuế với lộ trình khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, theo bà cần có giải pháp gì để tránh tình trạng “mắc kẹt” ở quy mô hộ, nhưng vẫn bảo đảm tính công bằng trong thực hiện chính sách?

- Đây là điểm tôi cho rằng phải nhìn xa hơn một bước. Nếu chỉ dừng ở miễn thuế cho hộ kinh doanh mà không gắn với lộ trình phát triển thì chính sách rất dễ vô tình tạo ra “vùng an toàn”, khiến nhiều hộ không muốn lớn lên.

Theo tôi, muốn tránh tình trạng “mắc kẹt” ở quy mô hộ kinh doanh thì chính sách miễn thuế phải gắn với một lộ trình 2 bước:

Bước thứ nhất là hỗ trợ để bước vào khu vực chính thức, chứ không chỉ hỗ trợ để ở lại đó. Nghĩa là hộ kinh doanh dưới ngưỡng được miễn thuế cần đồng thời được hỗ trợ về hóa đơn điện tử, kế toán đơn giản, tư vấn pháp lý, tiếp cận tín dụng và đào tạo quản trị. Miễn thuế chỉ là một phần; phần còn lại là phải làm cho chi phí chuyển đổi sang doanh nghiệp trở nên dễ chịu hơn.

Bước thứ hai là thiết kế cơ chế chuyển tiếp đủ hấp dẫn. Ví dụ, khi hộ kinh doanh chuyển thành doanh nghiệp thì trong một số năm đầu có thể được hưởng mức thuế suất ưu đãi, thủ tục kế toán đơn giản hơn hoặc hỗ trợ chi phí tuân thủ ban đầu. Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành đã có các chính sách hỗ trợ nhất định cho doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh. Vấn đề là phải làm cho người kinh doanh thấy rằng lên tầm doanh nghiệp không phải là bước nhảy sang gánh nặng mới mà là bước sang không gian phát triển mới.

Công bằng chính sách không phải là giữ mãi hộ kinh doanh trong “vùng miễn thuế”, mà là tạo con đường để họ lớn lên một cách an toàn.

- Trân trọng cảm ơn đại biểu!

Văn Huy thực hiện

TIN LIÊN QUAN





























Home Icon VỀ TRANG CHỦ