🔍
Chuyên mục: Giáo dục

Tuyển sinh lớp 10: Bí quyết làm bài thi tiếng Anh đạt điểm tối ưu

2 giờ trước
Trao đổi với phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc, cô giáo Hồ Thị Phương, giáo viên tiếng Anh, Trường THCS Trần Duy Hưng (Hà Nội) đã chia sẻ những bí quyết giúp các sĩ tử ôn luyện, tự tin và làm bài hiệu quả với môn tiếng Anh trong Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10.

Cô giáo Hồ Thị Phương, giáo viên tiếng Anh, Trường THCS Trần Duy Hưng (Hà Nội) trong giờ dạy học. Ảnh: NVCC

Thưa cô, các dạng bài về ngữ cảnh thực tế và kỹ năng đọc hiểu chiếm tỷ trọng như thế nào?

Theo định hướng mới, kỹ năng đọc hiểu và ngữ cảnh thực tế chiếm tỷ trọng rất lớn, thường khoảng 50% - 70% tổng bài thi. Trong đề thi các em cần đọc và chọn từ hoặc cụm từ điền từ chỗ trống: Kiểm tra hiểu ngữ cảnh, từ vựng, ngữ pháp; Đọc hiểu đoạn văn dài là chiếm nhiều câu nhất (tìm ý chính, suy luận, từ đồng nghĩa, trái nghĩa…); Câu hỏi tình huống thực tế (real-life context): email, thông báo, quảng cáo, bài báo ngắn…

Điểm mới trong đề thi năm nay là không còn thiên về học thuộc ngữ pháp rời rạc. Ngữ pháp được kiểm tra thông qua ngữ cảnh, không hỏi riêng lẻ nhiều như trước nên các em cần lưu ý điểm này.

Việc tích hợp kiến thức liên môn (văn hóa, khoa học, đời sống) vào bài thi tiếng Anh theo chương trình mới đòi hỏi học sinh phải có vốn hiểu biết xã hội như thế nào để xử lý tốt các bài đọc, thưa cô?

Chương trình mới yêu cầu học sinh không chỉ giỏi tiếng Anh, mà còn cần hiểu biết xã hội ở mức cơ bản, có thực tế và cập nhật nhanh.

Vì vậy, các em cần có kiến thức về đời sống, môi trường, sức khỏe, công nghệ, giáo dục. Chẳng hạn, những kiến thức về biến đổi khí hậu, mạng xã hội, lối sống lành mạnh. Ở lĩnh vực văn hóa các em cần tìm hiểu về văn hóa các nước nói tiếng Anh và Việt Nam. Các em cần so sánh phong tục, lối sống, ứng xử.

Với kiến thức khoa học và xã hội cơ bản, các em cần nhắm những khái niệm phổ biến như Trí tuệ nhân tạo, năng lượng tái tạo, du lịch bền vững. Những kiến thức này không cần chuyên sâu nhưng phải hiểu ý chính khi đọc.

Với áp lực thời gian trong phòng thi, cô có lời khuyên gì về thứ tự ưu tiên khi làm các phần như tìm lỗi sai, viết lại câu...? Cô có "mẹo" nào để các em tìm ra từ khóa và ý chính nhanh nhất mà không cần hiểu hết 100% từ mới?

Các em cần hiểu nguyên tắc làm câu ngắn, câu dễ và chắc điểm trước, câu khó để sau.

Bước 1: Trắc nghiệm ngắn bao gồm phát âm, trọng âm, từ vựng; ngữ pháp đơn lẻ, biển báo, thông báo. Đây là phần “ăn điểm chắc”. Nếu câu nào phân vân, các em cần đánh dấu quay lại làm sau.

Bước 2: Các em cần chọn câu gần nghĩa với câu cho trước hoặc câu dựa vào các từ cho sẵn (Writing) và suy nghĩ kỹ cấu trúc.

Bước 3: Đọc hiểu (reading). Đây là phần dài, cần tập trung. Các em làm sau khi đã có “điểm nền” để giảm áp lực tâm lý. Trong phần này, học sinh thường gặp khó khăn với các câu hỏi mang tính suy luận (inference).

Với việc không thuộc hết từ mới nhưng cần tìm từ khóa, các em nên theo hai bước sau đây: Đọc câu hỏi trước để tìm những từ khóa. Các em nhanh chóng gạch chân, tên rieng, từ khóa chính. Tiếp theo là đọc đoạn văn, không đọc từ đầu mà tìm đoạn chứa các từ khóa. Đọc 2 - 3 câu xung quanh, không đọc cả bài viết. Bước cuối cùng là áp dụng “logic suy luận”. Chẳng hạn với câu inference thường sẽ không hỏi trực tiếp mà hỏi ý ngầm. Lúc này các em nên loại đáp án quá cực đoan (always, never, every, only, all…). Học sinh nên chọn đáp án “hợp lý nhất” dựa vào ngữ cảnh.

Tóm lại, các em có thể không hiểu hết từ mới nhưng chỉ cần tập trung vào các từ khóa, logic suy luận và áp dụng phương pháp loại trừ để làm bài.

Những lỗi sai "kinh điển" nào mà học sinh thường mắc phải khi làm bài thi tiếng Anh, đặc biệt là ở những câu hỏi phân hóa cao, thưa cô?

Các câu khó thường không đánh đố kiến thức, mà đánh vào sự bất cẩn và không nắm vững cấu trúc. Các bẫy có thể kể đến như:

Bẫy từ vựng gần nghĩa (synonyms traps). Ví dụ: say / tell / speak / talk ; job / work / career. Học sinh chọn theo “cảm giác quen” mà không để ý cấu trúc đi kèm. Hoặc các cụm như: tell + someone + something “nói / kể / bảo” (có người nghe); say + something (no object)/ say + (to someone) that “nói” (không cần người nghe trực tiếp); speak + language “nói” (trang trọng / ngôn ngữ); speak to/with someone; talk to/with someone “nói chuyện” (thân mật, hội thoại); talk about something.

Bẫy liên từ, logic câu như: although / because / so / however. Học sinh hay gặp: (một câu dùng 2 từ nối cùng lúc) như : Although… but…….; Because ……, so….. Học sinh ghi nhớ: chỉ dùng 1 trong 2 từ nối này trong cùng một câu.

Bẫy thì (tenses) theo ngữ cảnh: Có dấu hiệu thời gian đan xen vào nhau như: I …….(not see) him since last Christmas. Đáp án: haven’t seen (không phải didn’t see).

Bẫy mệnh đề quan hệ (relative clauses) bao gồm: who / which / that / where / when. Học sinh thường hay sai: Dùng sai đại từ “which” – “where”. Ví dụ: Last week I went to Ha Noi which is a peaceful city; Last week I came back to Ha Noi where I was born.

Bẫy đọc hiểu (Reading nâng cao) có đáp án “na ná” giống bài nên dễ bị chọn nhầm hoặc đúng một phần nhưng không đủ.

Các em cần theo nguyên tắc: Đáp án đúng sẽ phù hợp toàn bộ ý, không phải 1 chi tiết nhỏ. Đầu bài yêu cầu chọn từ trái nghĩa (opposite) với từ trong bài nhưng đáp án cho từ đồng nghĩa (closest). Học sinh do không đọc kĩ đầu bài và thường tư duy theo tìm từ đồng nghĩa nên chọn sai đáp án.

Thưa cô, trong quá trình làm bài, làm sao để học sinh tự kiểm soát được các "bẫy" về thì (tenses) hoặc sự hòa hợp giữa chủ ngữ và động từ khi tâm lý đang căng thẳng?

Để tránh được các bẫy này, các em tuân thủ: Tìm “dấu hiệu thì” (signal words) như since / for / just / already … là hiện tại hoàn thành; yesterday / last night / ago … thì quá khứ đơn; now/ at the moment / at present ... thì hiện tại tiếp diễn.

Tiếp theo, các em cần xác định chủ ngữ theo cách chia số ít hay số nhiều, chia theo Subject 1 hay Subject 2. Ví dụ: A number of students… là số nhiều; The number of students… là số ít; As well as, together with, along with... chia theo Subject như: Not anly … but also, neither … nor, either ….or … hoặc chia theo Subject 2.

Trong quá trình làm bài, các em cần lưu ý tô đúng mã đề, tô đáp án rõ ràng, không tô mờ hoặc tẩy chưa hết. Đồng thời luôn giữ lại 3–5 phút cuối để soát lại toàn bài. Kiểm tra lại xem đã tô đúng với phương án đã chọn hay chưa. Tuyệt đối không để trống câu nào không tô đáp án.

Xin trân trọng cảm ơn cô!

Lê Vân/Báo Tin tức và Dân tộc

















Home Icon VỀ TRANG CHỦ