Từ kết quả 6 tháng đầu năm nhìn về mục tiêu tăng trưởng hai con số

TS. Nguyễn Đình Chúc - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới. Ảnh: Kiều Chinh/Mekong ASEAN.
Phát biểu khai mạc Hội thảo khoa học “Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thách thức, động lực và triển vọng phát triển” do Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức ngày 9/7, TS. Đặng Xuân Thanh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhấn mạnh năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thế giới biến động phức tạp.
Vượt qua những cơn gió ngược, kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm ghi nhận kết quả lạc quan. GDP quý 2/2026 ước tăng 8,39%, kéo theo GDP 6 tháng đầu năm tăng 8,18% (cao hơn mức 7,63% của cùng kỳ năm 2025).
"Động lực tăng trưởng không chỉ đến từ sản xuất công nghiệp hay tiêu dùng, mà còn từ sự cải thiện đồng thời của đầu tư, thương mại và các dòng vốn trong và ngoài nước," TS. Đặng Xuân Thanh khẳng định.
Điểm sáng nổi bật là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục tăng mạnh. Vốn FDI giải ngân tăng khoảng 11,2%, trong khi vốn đăng ký tăng trên 60% so với cùng kỳ năm trước. Đây không chỉ là tín hiệu tích cực về quy mô vốn, mà còn phản ánh niềm tin của nhà đầu tư quốc tế đối với triển vọng kinh tế Việt Nam.
Không chỉ FDI, thương mại quốc tế cũng tiếp tục đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 6 tháng đầu năm tăng hơn 27%; riêng xuất khẩu quý II tăng gần 23% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, khoảng 94% kim ngạch nhập khẩu là máy móc, thiết bị và nguyên liệu phục vụ sản xuất, cho thấy doanh nghiệp vẫn mạnh dạn mở rộng đầu tư để đón các đơn hàng mới trong những tháng cuối năm.
Ở phương diện sử dụng GDP, các chỉ số đo lường tổng cầu đều mang lại những tín hiệu khả quan: Tiêu dùng cuối cùng của nền kinh tế tăng 8,15%; tích lũy tài sản tăng 15,20% và đặc biệt, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng mạnh 20,18%, trong khi nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ cũng tăng 26,44%.
5 vấn đề cần lưu ý
Phân tích sâu vào phản ánh thực trạng nền kinh tế, Báo cáo đề dẫn của TS. Nguyễn Đình Chúc đánh giá mức tăng trưởng 8,18% là con số cao nhất kể từ năm 2000. Nền kinh tế ghi nhận nhiều điểm sáng như chỉ số PMI duy trì trên 50 điểm suốt 12 tháng, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 27,1%. Đây là những tín hiệu tích cực, cho thấy năng lực sản xuất và xuất khẩu của nền kinh tế chưa hề suy giảm.
Tuy nhiên, TS. Nguyễn Đình Chúc nhìn nhận 5 vấn đề cần lưu ý phía sau bức tranh tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm:
Thứ nhất, về cân đối xuất nhập khẩu. Việt Nam đang nhập siêu tới 16,65 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm, một sự đảo chiều lớn so với mức thặng dư bình quân 24 tỷ USD/năm của giai đoạn 2023 - 2025. Dù 94,1% hàng nhập khẩu là tư liệu sản xuất, nhưng việc nhập siêu đang tạo áp lực lớn lên tỷ giá và dự trữ ngoại hối (hiện chỉ tương đương 2 tháng nhập khẩu). Bên cạnh đó, khu vực FDI chi phối tới gần 80% giá trị xuất khẩu, cảnh báo về việc nền kinh tế đang suy giảm giá trị gia tăng nội địa.
Thứ hai là cân đối tiền tệ - tín dụng. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, ngành ngân hàng đang phải gánh vác vai trò cấp vốn chủ lực, với tỷ lệ dư nợ tín dụng trên huy động (LDR) đã lên tới 115%, vượt ngưỡng an toàn được khuyến nghị.
“Trong khi đó, các chính sách nới lỏng gần đây như miễn room tín dụng cho dự án trọng điểm, nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn lên 40% có thể giải quyết thanh khoản trước mắt nhưng lại tiềm ẩn rủi ro lệch pha kỳ hạn và che giấu nợ xấu,” TS. Nguyễn Đình Chúc phân tích.
Thứ ba, về thu chi ngân sách và đầu tư công. Điểm sáng là nợ công hiện chỉ khoảng 32% GDP, thấp hơn nhiều so với trần 60% và so với hầu hết các nền kinh tế đang phát triển có thu nhập trung bình. Đây là dư địa tài khóa quý giá cho đầu tư công trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, quy mô thu ngân sách trên GDP vẫn thấp hơn đáng kể so với mặt bằng khu vực và thế giới, trong khi các nguồn thu truyền thống như dầu thô, thu từ vốn, thu từ đất đai đang giảm và khó dự đoán.
Thứ tư, bất cập trong cân đối tiết kiệm - đầu tư. Hiện trạng tổng tiết kiệm lớn hơn đầu tư chủ yếu là nhờ thặng dư của khu vực FDI, trong khi khu vực kinh tế trong nước vẫn đang thâm hụt.
"Sự lệch pha này là nguyên nhân sâu xa khiến mặt bằng lãi suất khó giảm và gia tăng gánh nặng tài trợ vốn lên hệ thống ngân hàng," TS. Nguyễn Đình Chúc nhận định.
Thứ năm, sức khỏe của khu vực doanh nghiệp nội địa. Cộng đồng doanh nghiệp là khu vực chịu tác động cộng hưởng từ tất cả những vấn đề đã nêu: chi phí vốn, áp lực tỷ giá, dư địa chính sách hỗ trợ. Tình hình đăng ký thành lập mới, quay lại hoạt động và rút lui khỏi thị trường của doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm là chỉ báo quan trọng về sức khỏe thực của nền kinh tế.

Hội thảo khoa học “Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thách thức, động lực và triển vọng phát triển”. Ảnh: Kiều Chinh/Mekong ASEAN.
Gỡ nút thắt thể chế, nâng hiệu suất vốn nhằm thúc đẩy nội lực kinh tế
Từ những vấn đề đã nêu, tại hội thảo, trong phiên tham luận chuyên sâu, các chuyên gia đã thảo luận, đề xuất nhiều giải pháp để giải quyết 5 vấn đề lớn trên, tập trung vào: duy trì đà tăng trưởng gắn liền với ổn định vĩ mô; tái cấu trúc thị trường vốn phi ngân hàng; tối ưu hóa giải ngân đầu tư công; tăng hàm lượng nội địa trong chuỗi xuất khẩu; và khôi phục niềm tin kinh doanh cho doanh nghiệp nội địa.
TS. Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, cho rằng thương mại tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế trong 6 tháng đầu năm khi xuất khẩu duy trì đà tăng, cơ cấu nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị và nguyên liệu phục vụ sản xuất. Điều này cho thấy hoạt động sản xuất, đầu tư và chuẩn bị đơn hàng xuất khẩu vẫn được duy trì.
Tuy nhiên, nhập siêu quay trở lại cũng đặt ra những vấn đề cần được theo dõi. Đặc biệt, vấn đề cần lưu ý là quy mô thương mại tăng nhanh nhưng giá trị gia tăng tạo ra trong nước chưa tương xứng, phản ánh sự phụ thuộc lớn vào khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và nguồn nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu.
Do đó, để nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế, cần từng bước tăng năng lực sản xuất trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng tỷ lệ nội địa hóa và thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là giải pháp quan trọng để nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế trong bối cảnh thương mại quốc tế còn nhiều biến động.
Liên quan đến đầu tư, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường, Học viện Tài chính, cho rằng chính sách tài khóa vẫn đang được điều hành theo hướng hỗ trợ tăng trưởng, qua đó tạo thêm dư địa cho đầu tư công - một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế. Hơn nữa, cùng với quyết tâm cải cách bộ máy và đổi mới thể chế đầu tư công, việc tập trung nguồn lực cho các dự án trọng điểm sẽ tiếp tục tạo hiệu ứng lan tỏa đối với khu vực tư nhân và thu hút đầu tư xã hội.
Tuy nhiên, quá trình triển khai giải ngân đầu tư công vẫn đối mặt nhiều thách thức như: chất lượng lập dự toán, tiến độ giải ngân, huy động nguồn lực, cân đối giữa đầu tư mới và chi duy tu hạ tầng hiện hữu, cũng như cơ chế phân cấp giữa Trung ương và địa phương.
"Muốn nâng hiệu quả sử dụng vốn, cần bắt đầu từ khâu thực thi. Mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới sẽ không chỉ phụ thuộc vào khả năng huy động thêm nguồn lực, mà phụ thuộc nhiều hơn vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng từng đồng vốn," PGS.TS. Vũ Sỹ Cường nhấn mạnh.
PGS.TS. Vũ Sỹ Cường cho rằng, khi đầu tư công được giải ngân đúng tiến độ, dòng vốn FDI gắn kết chặt chẽ hơn với doanh nghiệp trong nước, tín dụng được phân bổ vào các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng cao và các rào cản thể chế được tháo gỡ kịp thời, các nguồn lực hiện có mới có thể chuyển hóa thành năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Về môi trường đầu tư, ông Phạm Ngọc Thạch, Phó Trưởng ban Pháp chế, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhận định, mặc dù khu vực kinh tế tư nhân vẫn thể hiện động lực phát triển với số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường vượt trội so với số rút lui, nhưng xu hướng rời bỏ thị trường gia tăng đang cảnh báo về giới hạn sức chống chịu của doanh nghiệp trước các áp lực về chi phí, vốn và thị trường xuất khẩu.
Trước bối cảnh đó, ông Thạch khẳng định cải cách thể chế chính là dư địa hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu nhất hiện nay. Đại diện VCCI kiến nghị cần tiếp tục cắt giảm chi phí tuân thủ, tối giản quy trình quản lý thuế, kế toán và hóa đơn điện tử, đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý để thúc đẩy hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp. Đồng thời, việc khơi thông nguồn vốn, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh nội tại sẽ là chìa khóa giúp doanh nghiệp đứng vững trước mọi biến động.
Kiều Chinh
3 giờ trước
4 giờ trước
5 giờ trước
6 giờ trước
10 giờ trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
1 phút trước
5 giờ trước
2 giờ trước
Vừa xong
5 phút trước
8 phút trước
10 phút trước
17 phút trước
19 phút trước
20 phút trước
21 phút trước