🔍
Chuyên mục: Nghệ thuật

Tú Hằng và cuộc chơi màu giàu cảm xúc

5 giờ trước
Ngoài giờ hành chính, người ta lại gặp Tú Hằng bận bịu với công việc thiết kế đồ họa, dàn dựng sự kiện, vẽ biển quảng cáo tại nhà. Nhưng thỉnh thoảng bất ngờ lại gặp anh bụi bặm trên chiếc Minsk cũ, phi ào ào vượt dốc núi vùng cao để tìm chất liệu sáng tác. Dường như trong con người ấy luôn song hành hai thế giới: sự chỉn chu, khuôn phép và phóng khoáng, nổi loạn của kẻ suốt đời đi tìm cảm xúc.

Cậu bé xách vữa một ngày thành sinh viên mỹ thuật

Họa sĩ Trần Quang Tú (giới hội họa quen gọi Tú Hằng - cái tên gắn với nghề đì zai đồ họa mà anh vốn nổi tiếng), dáng nhanh nhẹn, nét mặt nghiêm cẩn của một người làm trong ngành sư phạm. Hằng ngày, anh lái xe đến cơ quan, làm những công việc hành chính. Nếu chỉ gặp trong hoàn cảnh ấy, ít ai nghĩ anh là một họa sĩ.

Tác phẩm "Chợ phiên Cán Cấu"

Nhưng bước qua cánh cửa căn phòng riêng của Tú Hằng, mọi hình dung lập tức thay đổi. Phòng của anh giống một gallery thu nhỏ, để ngắm, để chơi hơn là để làm việc. Không gian ngổn ngang nhưng sống động. Tranh phủ kín các mảng tường, những bức mới hoàn thành còn dựng trên giá vẽ. Sơn dầu, acrylic, bột màu… nằm xen với những cuốn sách mỹ thuật cũ và vài chiếc máy hát cổ.

Đã chót “nghiện” hội họa rồi thì khó bỏ lắm!, Tú Hằng luôn bảo vậy. Làm thiết kế thì ra tiền, nhưng hội họa lại nuôi dưỡng cảm xúc. Ngồi trước toan và màu, anh thấy mình được sống. Nghe anh nói, tôi nhớ tới câu chuyện cách đây hơn bốn chục năm.

Ngày ấy, Tú Hằng là cậu bé nghèo, lớn lên giữa đồi rừng của xã Văn Hán, nơi bố mẹ anh gắn bó cả đời với nghề lâm trường. Tuổi thơ của anh không có nhiều trò chơi của lũ trẻ nơi phố thị, chỉ có những tờ giấy cũ nhàu với chi chít nét vẽ.

“Tôi mê vẽ từ rất sớm. Thật ra đứa trẻ nào cũng thích vẽ, chỉ có điều càng lớn lên người ta càng đánh mất sự hồn nhiên ấy. Tôi may mắn vẫn giữ lại được một phần. Hồi bé cứ thấy tờ giấy nào là lại mang ra vẽ bộ đội, công an đội mũ ca-pi. Người lớn trong nhà xem rồi cười, ai cũng bảo thằng này khéo tay”, anh chậm rãi nhớ lại.

Người đầu tiên nhận ra năng khiếu ấy chính là mẹ. Lên cấp ba, khi nhiều gia đình còn mơ cho con học kinh tế hay kỹ thuật thì bà lại hướng con trai theo hội họa. Suy nghĩ của bà chỉ giản đơn: Vì thằng Tú người còi nhỏ, thể trạng yếu. Cho nó học nghề này chắc nhẹ nhàng, không vất vả. Tú Hằng cười: “Sau này học, rồi mới biết làm nghệ thuật còn mệt hơn nhiều”.

Năm chuẩn bị thi Trường Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc và Cao đẳng Nhạc họa Trung ương, gia đình khó khăn quá nên anh phải đi phụ vữa. Người bé tí, mà ngày nào anh cũng xách vữa, rồi phải ủ vôi, dầm vôi, nhào vôi.

Một ngày, đang làm việc ở Chùa Hang, họa sĩ Dương Thị Nội đi ngang qua. Thấy cậu học trò cưng đang lấm lem bên cối vữa, bà gọi lớn: “Thôi, không phải xách vữa nữa. Mày đỗ Trường Văn hóa Nghệ thuật rồi. Điểm cao lắm, đứng thứ hai”. Khoảnh khắc ấy, Tú Hằng vẫn nhớ như in sau mấy chục năm.

Từ “công trường” phụ hồ tới giảng đường học mỹ thuật, cánh cửa hội họa, như bừng mở ra với Tú Hằng. Nhưng phía sau điều ấy, không phải những ngày tháng lãng mạn như nhiều người vẫn nghĩ. Học rồi vẽ và ra trường mới thấy lao động sáng tạo mỏi vô cùng. Lao động chân tay mệt rồi nghỉ là khỏe. Còn sáng tác không ra, thì cái đầu cứ không thôi day dứt. Và đến bây giờ, sau mấy chục năm cầm cọ, Tú Hằng vẫn còn nguyên cảm giác ấy.

Trường Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc lúcTú Hằng học còn nhiều khó khăn. Thời bao cấp vẫn còn rơi rớt, nên thiếu thốn đủ thứ. Đói dài. Ba sinh viên chung nhau hai suất cơm nhà bếp. Người có học bổng thì còn đỡ, người không có học bổng phải san sẻ từng miếng ăn. Muốn no bụng phải “ngoại giao” với “cô nuôi” ở nhà bếp để xin thêm chút cơm cháy.

Khổ là vậy nhưng Tú Hằng cho rằng thế hệ của anh lại có được sự chuyên tâm, điều mà lớp trẻ hôm nay ít có: “Ngày ấy ít bị chi phối lắm. Sáng học hình họa, trang trí. Chiều học lịch sử mỹ thuật, tiếng Nga... Chỉ biết học và vẽ thôi”.

Trong những người thầy đã đi qua đời mình, người để lại dấu ấn sâu đậm nhất với anh là họa sĩ Tuấn Vinh. Nhắc đến thầy, ánh mắt Tú Hằng sáng lên: Ông đa tài, sống “nghệ” và “chất” lắm! Ông dạy vẽ nhưng sự tài hoa, phiêu lãng lại ảnh hưởng hưởng nhiều nhất đến các thế hệ học trò.

Họa sĩ Tú Hằng

Những chuyến đi thực tế ở hồ Ba Bể hay bản Tày Bắc Sơn vẫn còn nguyên trong ký ức anh. Thầy trò rong ruổi khắp núi, khắp rừng. Thầy Tuấn Vinh mang theo súng hơi, có khi săn được chim, được gà rừng, cả đoàn lại cải thiện bữa ăn.

Điều Tú Hằng ảnh hưởng nhiều nhất ở người thầy ấy là cách tiếp cận hội họa. Anh nhớ như in lần thực tập ở Ba Bể. Trước mặt là mặt nước cũng những vách núi đá đồ sộ. Thầy không ngồi tỉa từng chi tiết mà làm ướt mặt giấy trước, đặt gam màu chủ đạo lên, rồi để các lớp màu tự hòa quyện. “Thầy vẽ rất nhanh. Màu sắc tự hòa vào nhau, không gò từng chỗ một. Tôi làm theo cách của thầy. Tự nhiên thấy tranh ngon lành hơn hẳn”. Đó cũng là lúc Tú Hằng ngộ ra: hội họa không phải là sao chép thiên nhiên, mà phải biết bắt, biết nắm lấy cái thần, cái hồn của cảnh vật.

Nhiều năm sau, anh vẫn giữ nguyên cách làm ấy. “Phải bắt được tổng thể trước. Tổng thể ổn rồi mới đi vào chi tiết. Nó giống như làm kiến trúc nhà vậy, trước hết phải có cái khung đã”, Tú Hằng thổ lộ.

Đang quệt cọ lên toan, bỗng cảm xúc đứt đoạn, nhiều lúc nhìn tranh thấy mọi thứ sống sượng, Tú Hằng lại nhớ đến bài học cũ của người thầy năm nào. Và anh cứ vẽ, có khi chưa cần biết nó sẽ thành cái gì. Trước tiên cứ xử lý không khí chung, xử lý gam màu chung. Khi tổng thể đạt được khoảng bảy, tám phần thì hình ảnh tự nhiên hiện ra. Có lẽ vì thế mà tranh Tú Hằng luôn mang cảm giác được hoàn thành, rất nhẹ và dễ nhưng lại nhanh, mạnh và căng đầy cảm xúc.

Ào ạt vẽ và sống

Nhìn hàng trăm bức tranh của Tú Hằng, họa sĩ Đỗ Minh Hải, giảng viên mỹ thuật Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, cho rằng, có thể nhận ra tính cách tác giả gần như ngay lập tức. “Tôi nghĩ Tú Hằng là người rất thẳng thắn, chân thành. Cái thẳng thắn ấy nó lộ ngay trong tranh. Ý tứ rõ ràng, đậm nhạt rõ ràng, gam màu nóng, lạnh, mạnh và mạch lạc”.

Cũng theo Đỗ Minh Hải, tranh Tú Hằng có nhiều giai đoạn khác nhau, phản ánh khá rõ những biến động trong đời sống của người nghệ sĩ. Các bức phong cảnh, là kết quả từ những chuyến đi dài ngày ở vùng cao; hoặc thời dịch Covid-19 ở nhà nhiều, thì xuất hiện cả một loạt tranh tĩnh vật.

Cái mạnh mẽ trong mảng màu của Tú Hằng có liên quan rất nhiều đến tính cách. Tú Hằng là người “chơi mạnh nhiều thứ”, mê âm thanh, nghiện xe cổ, thích xê dịch... Những nguồn năng lượng ấy đi thẳng vào tranh. “Có chuyến đi Hà Giang về là có ngay loạt tranh Hà Giang. Anh ấy làm việc theo cảm xúc, vẽ ngay, không để lâu”, Đỗ Minh Hải khẳng định.

Điều khiến Đỗ Minh Hải thích nhất ở tranh Tú Hằng là nhiều bức gần như đã hoàn thiện ngay từ những lớp màu đầu tiên. “Nhiều người chăm chút từng cái cây, cái lá, mái nhà. Còn ở đây có khi cái ảo ban đầu Tú Hằng vẽ đã đủ rồi”.

Nhất là với đề tài vùng cao. Sương, mây, cây, đá, những lớp không khí bảng lảng ở Bắc Sơn, Mù Cang Chải hay Mèo Vạc Đồng Văn dường như rất phù hợp với lối vẽ của Tú Hằng.

“Những nét mạnh bạo đầu tiên vô tình lại tạo đúng cái chất ấy”. Cũng bởi vậy mà tranh anh thường chỉ gợi chứ không kể. Người xem không bị dẫn dắt bởi câu chuyện cụ thể mà bị cuốn vào những mảng màu, những nhịp điệu thị giác và cảm xúc. Có lẽ chính Tú Hằng cũng không muốn ràng buộc mình vào bất cứ khuôn mẫu nào. Như anh thổ lộ: “Vẽ chủ yếu để thể hiện cảm xúc thôi. Vẽ để thoải mái, để giải tỏa. Tôi không bị gò vào một bút pháp nào cả”.

Phá vỡ bố cục để tìm một lối đi

Nếu bức “Mùa xuân vùng cao” cho thấy vẻ mềm mại và chất thơ trong hội họa của Tú Hằng thì bức “Ngõ” lại thể hiện một con người khác. Táo bạo hơn. Dám phá vỡ những nguyên tắc quen thuộc.

Tác phẩm xuất phát từ một lần anh vào Hội An. Trong lúc lang thang cùng bạn bè, Tú Hằng bắt gặp một ngõ nhỏ có cấu trúc không gian rất cổ và lãng mạn. Anh ghi lại bằng điện thoại. Sau đó, từ ký ức ấy, bức “Ngõ” ra đời.

Tác phẩm "Đêm chợ tình Khau Vai"

Họa sĩ Hải Anh, Chi hội Mỹ thuật Thái Nguyên đánh giá: Đây là một trong những tác phẩm thể hiện rõ nhất cá tính và cách tạo hình của Tú Hằng. “Tôi thích cách phá thế, phá cách trong tranh của anh ấy”.

Theo Hải Anh, các họa sĩ thường e ngại đưa một mảng lớn vào giữa tranh vì dễ gây cảm giác nặng nề, chia cắt không gian, nhưng Tú Hằng lại làm điều ngược lại. “Một mảng lớn đặt giữa tranh như xẻ đôi không gian. Nhiều người ngại làm kiểu đó lắm. Tú Hằng thì dám”.

Điều đáng nói là sự táo bạo ấy không xuất phát từ tính toán lý thuyết mà từ cảm xúc. “Tôi thích cái bố cục phá vỡ ấy. Nó lạ cả về bố cục, lẫn bút pháp”.

Quả như những gì họa sĩ Hải Anh cảm nhận, nghệ thuật luôn cần cái mới. Và có lẽ, cuộc chơi với màu của Tú Hằng nhiều năm qua cũng là hành trình đi tìm cái mới ấy. Từ cậu bé nhà nghèo ở Văn Hán mê vẽ những người lính trên trang giấy học trò đến người họa sĩ hôm nay vẫn ào ào phi xe máy khắp các bản làng vùng cao để tìm chất liệu sáng tác. Anh vẫn giữ nguyên thói quen vẽ nhanh, sống hết mình với cảm xúc. Bởi anh luôn nhớ lời thầy Tuấn Vinh năm nào: “Vẽ là phải hoàn thành trong một mạch”.

Tôi hỏi, anh làm hành chính, rồi suốt ngày thiết kế đồ họa, thời gian nào anh dành cho hội họa? Tú Hằng im lặng một lúc, rồi chậm rãi: “Vẽ với tôi không hẳn phải là nghiệp, nhưng lại là nợ, là duyên. Không cầm cọ, lâu ngày thấy ngượng với mình và day dứt lắm! Những tối rảnh, tôi thường pha ấm trà, bật một bản nhạc rồi ngồi với màu sắc. Lúc ấy tôi thấy mình được “sống” thật nhất.

Chiều buông chầm chậm, ngoài phố, trong căn phòng ngổn ngang tranh, màu, Tú Hằng lại cầm cọ. Tôi chợt hiểu, với anh, hội họa không phải đích đến mà là một cuộc đồng hành. Và biết đâu, ngay trên giá vẽ kia, giữa những lớp màu chưa kịp khô kia, một cuộc chơi mới lại đang bắt đầu.

Quang Khải















Home Icon VỀ TRANG CHỦ