🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Từ chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân hiện nay - Bài 3: Từ năng suất, tri thức, công nghệ và con người đến sức mạnh Quân đội

1 giờ trước
Trong phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 20-7-2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu các quyết sách của Trung ương phải tạo ra “4 bước chuyển chiến lược”, nhằm đưa những định hướng lớn của Đại hội XIV nhanh chóng trở thành năng lực phát triển và bảo vệ đất nước trong thực tiễn. Trong đó, bước chuyển thứ ba được xác định là: “Xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người”. Đây là một bước chuyển có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc về tư duy phát triển. Bởi một quốc gia muốn vươn lên không thể mãi dựa vào mở rộng vốn, tài nguyên, lao động giá rẻ hay khai thác những lợi thế sẵn có. Động lực phát triển bền vững phải ngày càng dựa vào năng suất lao động, tri thức, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng con người.

Đặt trong lĩnh vực quốc phòng, tinh thần ấy gợi mở một yêu cầu chiến lược: Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ mạnh hơn về tổ chức, quân số, vũ khí, trang bị, mà phải mạnh hơn về năng suất hoạt động, hàm lượng tri thức, trình độ công nghệ và chất lượng con người. Đây chính là con đường để chuyển hóa những thành tựu của khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực quốc gia thành sức mạnh quân sự, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội trong thời kỳ mới.

Tổng hợp luyện chuẩn bị cho Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, tháng 7-2025. Ảnh: TUẤN HUY

Bước chuyển từ “nhiều hơn” sang “hiệu quả hơn”

Điểm sâu sắc của bước chuyển thứ ba là sự thay đổi về logic tạo ra sức mạnh phát triển. Nếu mô hình phát triển dựa nhiều vào các yếu tố đầu vào thường đặt câu hỏi “có thêm bao nhiêu vốn, bao nhiêu lao động, bao nhiêu tài nguyên”, thì mô hình mới phải đặt câu hỏi: Với cùng một nguồn lực, làm thế nào tạo ra nhiều giá trị hơn, chất lượng cao hơn và sức cạnh tranh lớn hơn? Đó chính là bản chất của nâng cao năng suất.

Trong phát triển kinh tế, một đơn vị vốn, một giờ lao động hay một đơn vị tài nguyên phải tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao hơn. Trong quốc phòng cũng vậy. Một đơn vị tổ chức, một cán bộ, một giờ huấn luyện, một hệ thống vũ khí hay một khoản đầu tư phải tạo ra năng lực thực hiện nhiệm vụ cao hơn. Vì thế, có thể vận dụng tinh thần bước chuyển thứ ba vào xây dựng Quân đội bằng một mệnh đề: Từ tăng cường nguồn lực sang tối ưu hóa nguồn lực; từ số lượng sang chất lượng; từ “có” sang “làm chủ”; từ sử dụng công nghệ sang sáng tạo và làm chủ công nghệ; từ đào tạo nhân lực sang phát triển con người có năng lực chiến đấu trong môi trường công nghệ cao. Đây là yêu cầu phù hợp với quá trình xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh,cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh không chỉ là giảm đầu mối mà phải tạo ra chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao hơn, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Năng suất trong Quân đội trước hết là năng suất thực hiện nhiệm vụ

Khái niệm “năng suất” khi vận dụng vào Quân đội cần được nhận thức phù hợp với đặc thù quân sự. Đó không phải đơn thuần là số lượng sản phẩm vật chất tạo ra trong một đơn vị thời gian, mà trước hết là hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ trên cơ sở sử dụng hợp lý nhất tổ chức, con người, thời gian, vũ khí, trang bị và các nguồn lực bảo đảm. Một đơn vị có năng suất hoạt động cao là đơn vị có khả năng nắm tình hình nhanh, tham mưu đúng, ra quyết định kịp thời, tổ chức lực lượng hợp lý, huấn luyện sát nhiệm vụ, sử dụng trang bị hiệu quả và xử trí tình huống chính xác. Năng suất ấy được thể hiện trong từng hoạt động cụ thể: Thời gian từ nhận nhiệm vụ đến triển khai lực lượng; khả năng chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu; chất lượng huấn luyện; hiệu quả diễn tập; khả năng khai thác vũ khí, trang bị; chất lượng bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; năng lực phối hợp, hiệp đồng giữa các lực lượng. Như vậy, năng suất quân sự chính là một bộ phận cấu thành sức mạnh chiến đấu.

Muốn nâng cao năng suất phải tiếp tục đổi mới phương pháp chỉ huy, quản lý và tổ chức công việc; giảm những khâu trung gian không cần thiết; chuẩn hóa quy trình; đẩy mạnh chuyển đổi số; ứng dụng dữ liệu trong chỉ huy, điều hành; tăng cường mô phỏng, huấn luyện thực tế ảo; đồng thời lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo quan trọng đánh giá tổ chức và cán bộ. Từ đó, yêu cầu “tinh, gọn, mạnh” sẽ không dừng ở việc tinh gọn về cơ cấu, mà tiến tới tinh gọn về quy trình, tinh nhuệ về phương pháp, hiệu quả về sử dụng nguồn lực.

Tri thức phải trở thành một nguồn sức mạnh quân sự

Nếu năng suất là thước đo hiệu quả sử dụng nguồn lực thì tri thức là nguồn lực tạo ra năng suất. Trong chiến tranh hiện đại, ưu thế không chỉ được quyết định bởi số lượng binh khí, mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng thu thập, xử lý và khai thác thông tin; trình độ tư duy của người chỉ huy; năng lực làm chủ công nghệ; khả năng tổ chức tác chiến hiệp đồng và thích ứng với những phương thức chiến tranh mới. Vì vậy, xây dựng Quân đội hiện đại trước hết phải là xây dựng Quân đội có hàm lượng tri thức cao.

Điều đó đòi hỏi đổi mới mạnh mẽ giáo dục, đào tạo cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục chính trị với giáo dục quân sự, khoa học kỹ thuật; giữa lý luận với thực tiễn; giữa đào tạo cơ bản với đào tạo chuyên sâu. Đặc biệt, cần hình thành và phát triển đội ngũ chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, an ninh mạng, tự động hóa, phương tiện không người lái, công nghệ vật liệu mới, cảm biến, tác chiến điện tử, công nghệ mô phỏng và các lĩnh vực công nghệ quân sự mới.

Thực tiễn triển khai trong toàn quân cho thấy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được xác định là một hướng đột phá. Tuy nhiên, những hạn chế như thiếu chuyên gia đầu ngành, thiếu các nhóm nghiên cứu mạnh và chưa có nhiều sản phẩm khoa học - công nghệ được đưa vào trang bị. Điều đó cho thấy nhiệm vụ trước mắt không chỉ là “có thêm nhiều công trình nghiên cứu”, mà phải chuyển tri thức thành công nghệ, chuyển công nghệ thành sản phẩm và chuyển sản phẩm thành năng lực chiến đấu.

Công nghệ phải được chuyển hóa thành sức mạnh chiến đấu

Bước chuyển thứ ba đặc biệt nhấn mạnh vai trò của công nghệ. Đây là điểm có ý nghĩa quyết định đối với xây dựng Quân đội hiện đại. Công nghệ quân sự đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tiến hành chiến tranh. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ phân tích dữ liệu và nhận diện tình huống; phương tiện không người lái mở rộng khả năng trinh sát, giám sát và thực hiện nhiệm vụ; dữ liệu lớn giúp nâng cao chất lượng dự báo; công nghệ cảm biến tạo ra khả năng quan sát và nhận biết chiến trường rộng hơn; tự động hóa rút ngắn chu trình từ phát hiện đến quyết định và hành động.

Trong bối cảnh đó, nếu chỉ mua sắm trang bị hiện đại mà không làm chủ công nghệ thì quá trình hiện đại hóa sẽ thiếu chiều sâu và dễ phụ thuộc. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ tư duy “mua sắm để hiện đại hóa” sang “làm chủ để hiện đại hóa”. Làm chủ không nhất thiết đồng nghĩa với tự sản xuất tất cả, mà là phải làm chủ những công nghệ cốt lõi, những hệ thống quan trọng, có khả năng tích hợp, cải tiến, bảo đảm kỹ thuật và phát triển tiếp theo.

Điều này đặt ra yêu cầu phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại; gắn nghiên cứu khoa học với nhu cầu thực tiễn của đơn vị; gắn các viện nghiên cứu, nhà trường, doanh nghiệp quốc phòng với hệ sinh thái khoa học - công nghệ quốc gia. Như vậy, mỗi thành tựu khoa học - công nghệ của đất nước phải có khả năng đóng góp vào tiềm lực quốc phòng; mỗi bài toán của quốc phòng phải trở thành động lực thúc đẩy nghiên cứu và sáng tạo công nghệ.

Con người là trung tâm của quá trình hiện đại hóa Quân đội

Công nghệ dù hiện đại đến đâu vẫn do con người sáng tạo, vận hành và quyết định cách sử dụng. Vì thế, trong bốn yếu tố “năng suất - tri thức - công nghệ - con người”, con người vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu, vừa là nhân tố quyết định khả năng chuyển hóa ba yếu tố còn lại thành sức mạnh thực tế.

Xây dựng Quân đội trong thời kỳ mới trước hết phải xây dựng đội ngũ cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, chiến sĩ có phẩm chất chính trị vững vàng, ý chí chiến đấu cao, kỷ luật nghiêm, trình độ chuyên môn ngày càng cao. Đặc biệt, phải hình thành lớp cán bộ có khả năng tư duy trong môi trường số và công nghệ cao; vừa hiểu sâu về quân sự, vừa có kiến thức về khoa học - công nghệ; vừa có tư duy chiến lược, vừa có khả năng tổ chức thực tiễn. Đây là sự chuyển biến từ quan niệm “đủ người” sang “đúng người, giỏi việc, làm chủ công nghệ và có khả năng thích ứng”. Công tác cán bộ vì thế cần chú trọng phát hiện, trọng dụng người có năng lực thực chất; tạo môi trường để cán bộ khoa học, kỹ thuật phát huy tài năng; có cơ chế khuyến khích nghiên cứu, sáng tạo, chấp nhận những thử nghiệm có kiểm soát; đồng thời bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm. Một Quân đội hiện đại luôn đòi hỏi quân nhân chấp hành nghiêm kỷ luật, những con người có khả năng suy nghĩ độc lập trong phạm vi chức trách, sáng tạo và giải quyết những vấn đề chưa có tiền lệ.

Đổi mới huấn luyện để tạo ra con người có năng lực thực chiến. Bước chuyển từ mô hình phát triển dựa vào đầu vào sang dựa vào tri thức, công nghệ và con người cũng phải được thể hiện rõ trong công tác huấn luyện. Huấn luyện không chỉ nhằm truyền đạt kiến thức mà phải tạo ra năng lực thực hành nhiệm vụ. Cần chuyển mạnh từ huấn luyện theo những gì có sẵn sang huấn luyện theo yêu cầu của chiến tranh tương lai; tăng cường huấn luyện trong điều kiện phức tạp, sát thực tế; sử dụng mô phỏng, công nghệ số và dữ liệu; nâng cao năng lực tác chiến hiệp đồng, xử trí tình huống bất ngờ. Đồng thời, phải coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận quân sự, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam. Công nghệ có thể thay đổi phương tiện chiến tranh, nhưng không thể thay thế tư duy chiến lược và bản lĩnh của người chỉ huy. Vũ khí hiện đại cần người sử dụng giỏi; hệ thống chỉ huy hiện đại cần người chỉ huy có trí tuệ; Quân đội hiện đại cần con người hiện đại về tri thức nhưng vững vàng về bản lĩnh chính trị. Đó là sự kết hợp giữa “hiện đại hóa vật chất” với “hiện đại hóa con người”.

Tiêm kích Su-30MK2 trong một lần luyện tập chuẩn bị cho Lễ khai mạc Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2024. Ảnh: TRUNG THÀNH

Tạo hệ sinh thái tri thức - công nghệ trong toàn quân. Để bước chuyển thứ ba thực sự đi vào xây dựng Quân đội, cần hình thành một hệ sinh thái liên kết chặt chẽ giữa nhà trường - viện nghiên cứu - đơn vị - doanh nghiệp - công nghiệp quốc phòng - nền khoa học quốc gia. Nhà trường phải cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao. Viện nghiên cứu phải giải quyết những bài toán khoa học - công nghệ chiến lược. Đơn vị phải đưa ra những yêu cầu thực tiễn. Doanh nghiệp phải có năng lực biến kết quả nghiên cứu thành sản phẩm. Công nghiệp quốc phòng phải tạo ra khả năng sản xuất, sửa chữa, cải tiến và bảo đảm trang bị. Sự liên kết ấy sẽ tạo thành một chu trình khép kín: Thực tiễn đặt bài toán - khoa học giải bài toán - công nghệ tạo sản phẩm - đơn vị kiểm nghiệm - sản phẩm được hoàn thiện - năng lực chiến đấu được nâng lên. Nếu chu trình này vận hành thông suốt, tri thức sẽ không nằm trong báo cáo, sáng kiến không nằm trên giấy, công nghệ không dừng ở phòng thí nghiệm mà thực sự trở thành sức mạnh của Quân đội.

Hiện đại hóa Quân đội trong hiện đại hóa quốc gia. Một yêu cầu quan trọng khác là phải xây dựng Quân đội trong mối quan hệ hữu cơ với sự phát triển của đất nước. Một nền kinh tế có năng suất cao sẽ tạo nguồn lực tốt hơn cho quốc phòng. Một nền khoa học - công nghệ phát triển sẽ tạo ra nền tảng cho công nghiệp quốc phòng. Một hệ thống giáo dục chất lượng cao sẽ cung cấp nguồn nhân lực cho Quân đội. Đồng thời, những yêu cầu của quốc phòng thúc đẩy nghiên cứu, sáng tạo và phát triển những công nghệ có khả năng ứng dụng rộng rãi trong dân sự. Vì thế, xây dựng Quân đội hiện đại phải gắn với xây dựng nền kinh tế tri thức, xã hội số và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Đây cũng là cách cụ thể hóa tinh thần của bước chuyển thứ ba: Quốc phòng là một lĩnh vực trong mô hình phát triển đất nước, quốc phòng trở thành một bộ phận hữu cơ của sức mạnh quốc gia.

Biến tri thức thành năng lực, biến công nghệ thành sức mạnh. Từ chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương Tô Lâm tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, có thể thấy bước chuyển thứ ba không chỉ là một định hướng kinh tế. Đó là một tư duy phát triển mới, trong đó chất lượng, năng suất, tri thức, công nghệ và con người trở thành những động lực chủ yếu tạo ra sức mạnh quốc gia. Vận dụng vào xây dựng Quân đội, điều quan trọng nhất là phải tạo được sự chuyển biến đồng bộ: Từ quân số sang chất lượng; từ nguồn lực sang năng suất; từ trang bị sang khả năng làm chủ; từ đào tạo nhân lực sang phát triển nhân tài; từ ứng dụng công nghệ sang làm chủ công nghệ; từ từng đơn vị riêng lẻ sang hệ sinh thái tri thức và công nghệ toàn quân. Xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” tạo ra một Quân đội có năng suất hoạt động cao, hàm lượng tri thức lớn, trình độ công nghệ tiên tiến và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Trong cuộc cạnh tranh về sức mạnh quốc gia ngày càng dựa nhiều vào tri thức và công nghệ, lợi thế không còn đơn thuần thuộc về bên có nhiều nguồn lực hơn, mà thuộc về bên biết tạo ra tri thức, làm chủ công nghệ, sử dụng nguồn lực hiệu quả và phát triển con người tốt hơn. Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tiên phong về tinh, gọn, mạnh; tinh nhuệ về trí tuệ, hiện đại về công nghệ, chất lượng cao về con người và hiệu quả cao trong hành động. Năng suất tạo hiệu quả; tri thức tạo năng lực; công nghệ tạo ưu thế; con người tạo nên sức mạnh. Thực hiện tốt bước chuyển chiến lược thứ ba chính là tạo nền tảng để Quân đội nhân dân Việt Nam phát triển nhanh hơn về chất lượng, vững chắc hơn về sức mạnh, chủ động thích ứng với những biến đổi của chiến tranh hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN VĂN SÁU, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam

TIN LIÊN QUAN

























Home Icon VỀ TRANG CHỦ