Triển vọng ngoại hối ASEAN-5 nửa cuối năm 2026

Đồng USD. (Ảnh: THX/TTXVN)
Các đồng tiền khu vực Đông Nam Á được dự báo khó có thể biến động đồng bộ trong nửa cuối năm 2026. Sự suy yếu của đồng USD có thể có lợi cho đồng ringgit và rupiah hơn là tiền đồng Việt Nam, baht và peso.
Đó là nhận định của nhà kinh tế trưởng toàn cầu Shan Saeed thuộc tập đoàn công nghệ bất động sản Juwai IQI tại Malaysia trên trang mạng tnsnews.com.my ngày 17/7.
Theo nhà kinh tế trưởng Shan Saeed, sự thống trị của đồng USD chưa kết thúc, nhưng kỷ nguyên lợi thế lợi suất ngày càng mở rộng của Mỹ đang mất dần động lực.
Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) duy trì phạm vi mục tiêu lãi suất quỹ liên bang ở mức 3,50%-3,75% trong tháng 6, khiến giai đoạn tiếp theo của chu kỳ đồng USD ngày càng phụ thuộc vào lạm phát, điều kiện thị trường lao động, rủi ro tài chính và địa chính trị hơn là chỉ thắt chặt tiền tệ.
Đối với Đông Nam Á, điều này tạo ra môi trường tiền tệ mang tính xây dựng hơn, mặc dù rất chọn lọc. Câu hỏi trọng tâm hiện nay không còn là mọi đồng tiền khu vực có tăng giá hay không, mà là nền kinh tế nào sở hữu các nguồn lực ngoại hối, uy tín tiền tệ và cấu trúc dòng vốn cần thiết để chuyển đổi sự suy yếu của đồng đô la thành sự ổn định tỷ giá hối đoái bền vững.
Hướng đi của 5 đồng tiền thuộc 5 nền kinh tế hàng đầu ASEAN có thể từng bước hội tụ nhưng mức độ tăng trưởng sẽ vẫn mang tính đặc thù của từng quốc gia.
Đối với ringgit, tỉ giá sẽ trong khoảng 3,90 - 4,20 ringgit đổi 1 USD. Tỷ giá tham chiếu USD/RM tại Kuala Lumpur đứng ở mức 4,0651 vào ngày 10/7, trong khi doanh thu ngoại hối hàng ngày đạt khoảng 18,93 tỷ USD, phản ánh chiều sâu và tính thanh khoản của thị trường tiền tệ nội địa Malaysia.
Ngân hàng trung ương Malaysia duy trì lãi suất chính sách qua đêm ở mức 2,75%.Chuyên gia Shan Saeed nhận định ringgit Malaysia bước vào nửa cuối năm 2026 với hồ sơ tăng giá điều chỉnh rủi ro mạnh nhất trong nhóm. Cơ sở hỗ trợ của đồng ringgit vượt xa chênh lệch lãi suất.
Malaysia tiếp tục hưởng lợi từ xuất khẩu thiết bị điện và điện tử, thu nhập từ hàng hóa, dòng vốn du lịch, các cam kết đầu tư vào chất bán dẫn, trung tâm dữ liệu và sản xuất tiên tiến.
Rủi ro chính chủ yếu đến từ bên ngoài: sự mạnh lên trở lại của đô la Mỹ, sự gián đoạn địa chính trị kéo dài, nhu cầu yếu hơn từ Trung Quốc hoặc sự suy giảm đáng kể trong thương mại toàn cầu.
Đối với rupiah, tỉ giá sẽ từ 17.500 - 18.500 rupiah đổi 1 USD. Tỷ giá tham chiếu của Ngân hàng Indonesia ở mức gần 18.069 rupiah đổi 1 USD vào ngày 10/7, giữ ổn định tỷ giá hối đoái như trọng tâm chính sách tiền tệ.
Chuyên gia Shan Saeed đánh giá rupiah vẫn là đồng tiền có hệ số beta cao nhất trong số 5 đồng tiền chủ chốt của ASEAN.
Lập trường chính sách thắt chặt hơn của Ngân hàng trung ương Indonesia củng cố triển vọng tăng giá của rupiah đồng thời báo hiệu sự sẵn sàng bảo vệ uy tín tiền tệ trước lạm phát nhập khẩu, dòng vốn chảy ra và biến động thị trường toàn cầu.
Nền kinh tế nội địa lớn mạnh, cơ sở xuất khẩu hàng hóa và câu chuyện đầu tư dài hạn của Indonesia vẫn là những yếu tố hỗ trợ cơ bản. Tuy nhiên, rupiah sẽ tiếp tục giao dịch với độ nhạy cao hơn đối với lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ, sự tham gia của nước ngoài vào thị trường trái phiếu trong nước và những thay đổi trong khẩu vị rủi ro toàn cầu. Đồng rupiah có tiềm năng phục hồi đáng kể nhưng sự biến động cũng vậy.
Đối với tiền đồng của Việt Nam, tỉ giá sẽ dao động từ 25.700-26.800 đồng đổi 1 USD. Chuyên gia Shan Saeed nhấn mạnh tiền đồng của Việt Nam vẫn khác biệt về cấu trúc so với các đồng tiền khác trong khu vực vì quỹ đạo được quản lý chặt chẽ hơn.
Xuất khẩu sản xuất, sản xuất điện tử và đầu tư trực tiếp nước ngoài bền vững tạo ra dòng vốn ngoại tệ ổn định.
Tuy nhiên, nhu cầu nhập khẩu mạnh mẽ, nhu cầu đồng USD của các doanh nghiệp và sự ưu tiên của chính phủ trong việc duy trì khả năng cạnh tranh xuất khẩu đang duy trì xu hướng giảm giá từng bước.
Tiền đồng Việt Nam khó có thể dẫn đầu đợt tăng giá của các đồng tiền ASEAN. Giá trị chiến lược của tiền đồng nằm ở sự biến động được kiểm soát, tính dự đoán của chính sách và sự phù hợp với mô hình kinh tế hướng xuất khẩu của Việt Nam, không phải sự tăng giá mạnh của vốn.
Đối với đồng baht Thái Lan, tỉ giá sẽ xoay quanh 32,75 - 34,75/USD. Tiền baht của Thái Lan giao dịch quanh mức 33,3 baht/USD vào ngày 10/7, trong khi Ngân hàng trung ương Thái Lan duy trì lãi suất chính sách ở mức 1,00% vào ngày 24/6.
Chuyên gia Shan Saeed cho rằng doanh thu du lịch, sự cải thiện cán cân vãng lai theo mùa và xuất khẩu hàng hóa ổn định hơn sẽ hỗ trợ phần nào cho tiền baht.
Tuy nhiên, cơ cấu lãi suất thấp của Thái Lan, tỷ lệ nợ hộ gia đình cao và tăng trưởng kinh tế trong nước không đồng đều đã hạn chế khả năng tăng giá ổn định của đồng baht.
Đồng tiền này cũng vẫn nhạy cảm với các dòng vốn liên quan đến vàng và sự thay đổi trong vị thế đầu tư khu vực, đôi khi tạo ra những biến động mạnh mà các yếu tố kinh tế trong nước không thể giải thích đầy đủ.
Đồng baht có thể tăng giá trong thời kỳ đồng đô la suy yếu trên diện rộng nhưng niềm tin vào khả năng tăng giá của nó vẫn thấp hơn so với đồng ringgit.
Đối với peso Philippines, tỉ giá sẽ từ 59,50 - 62,50 peso/USD. Tỷ giá peso của Philippines ở mức gần 61.50 peso đổi 1 USD vào ngày 10/7, khiến mức 56 - 60 được dự báo trước đó trở nên quá lạc quan như một kịch bản trung tâm trong nửa cuối năm.
Chuyên gia Shan Saeed cho rằng kiều hối, thu nhập từ dịch vụ gia công quy trình kinh doanh và xuất khẩu dịch vụ là những nguồn ngoại hối bền vững.
Tuy nhiên, Philippines vẫn phải đối mặt với chi phí nhập khẩu năng lượng cao, nhu cầu về hàng hóa vốn liên quan đến cơ sở hạ tầng và những lo ngại định kỳ về việc thực thi ngân sách.
Do đó, diễn biến của peso sẽ phụ thuộc vào việc tăng trưởng kinh tế trong nước của Philipppines mạnh mẽ có thể thu hút đủ vốn dài hạn để bù đắp nhu cầu cơ cấu của nền kinh tế đối với năng lượng, máy móc và hàng hóa trung gian nhập khẩu hay không.
Đồng peso sẽ ổn định khi đồng đô la mất đà, nhưng một đợt giảm bền vững dưới mức 60 sẽ đòi hỏi sự kết hợp thuận lợi hơn giữa giá dầu thấp hơn, lợi suất trái phiếu Mỹ giảm, cán cân thanh toán quốc tế được cải thiện và dòng vốn đầu tư danh mục mạnh hơn.
Như vậy, thay vì đợt tăng giá tiền tệ trên diện rộng của ASEAN, nửa cuối năm 2026 nhiều khả năng sẽ mang lại sự điều chỉnh trung bình có chọn lọc sau một thời kỳ dài đô la Mỹ mạnh lên.
Ringgit Malaysia mang lại sự cân bằng mạnh nhất giữa định giá, hỗ trợ bên ngoài và độ tin cậy của chính sách. Rupiah Indonesia mang lại lợi suất cao hơn và tiềm năng phục hồi lớn hơn nhưng với mức độ biến động cao hơn đáng kể.
Baht Thái Lan chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi du lịch, xuất khẩu và dòng chảy vàng, trong khi peso Philippines chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi giá năng lượng và nhu cầu nhập khẩu mang tính cấu trúc.
Chuyên gia Shan Saeed kết luận sự suy yếu của đồng USD có thể mở ra cánh cửa nhưng uy tín trong nước sẽ quyết định đồng tiền nào sẽ bước qua cánh cửa đó.
Các biến số quyết định sẽ là khả năng thực thi của ngân hàng trung ương, mức dự trữ bắt buộc, kỷ luật lạm phát, khả năng phục hồi của cán cân vãng lai và khả năng thu hút vốn sản xuất dài hạn thay vì dòng vốn đầu cơ ngắn hạn.
Các rủi ro giảm giá chính vẫn là cú sốc lạm phát mới ở Mỹ, giá dầu duy trì ở mức cao, nhu cầu yếu hơn từ Trung Quốc, leo thang địa chính trị và sự suy giảm đột ngột trong tâm lý rủi ro toàn cầu.
Chu kỳ đồng USD sẽ định hình xu hướng khu vực, nhưng sẽ không quyết định mọi kết quả. Trên thị trường tiền tệ, hướng đi mang tính chu kỳ, nhưng chính uy tín mới mang tính cấu trúc./.
(TTXVN/Vietnam+)
6 phút trước
2 giờ trước
3 giờ trước
5 giờ trước
57 phút trước
1 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước