🔍
Chuyên mục: Thời sự

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Nhận diện đầy đủ và sớm khắc phục 'bốn khoảng trống', quán triệt 'ba chuyển dịch lớn' về phát triển văn hóa

2 giờ trước
Sáng 13.7, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam họp Phiên thứ 2, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7.1.2026 của Bộ Chính trị và đề ra phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì phiên họp

Dự phiên họp có các Ủy viên Bộ Chính trị: Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú, Trưởng ban Chỉ đạo; các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng, thành viên Ban Chỉ đạo, lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương.

Cùng dự có Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh, Ủy viên Thường trực Ban Chỉ đạo cùng các Thứ trưởng Bộ VHTTDL.

Sau khi nghe báo cáo của Bộ VHTTDL cùng các ý kiến trao đổi tại phiên họp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao sự chuẩn bị nghiêm túc và những ý kiến, kiến nghị tâm huyết, chỉ rõ kết quả bước đầu, những hạn chế và đề xuất nhiều giải pháp quan trọng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước ghi nhận đã hoàn thành khối lượng công việc lớn sau nửa năm triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW. Cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương đã được thiết lập; nhiều văn bản quan trọng được ban hành, tạo cơ sở chính trị, pháp lý và tổ chức để triển khai nghị quyết. Một số địa phương chủ động xây dựng không gian sáng tạo, số hóa di sản, phát triển sản phẩm văn hóa và huy động doanh nghiệp, cộng đồng tham gia.

Nhận diện đầy đủ và sớm khắc phục “4 khoảng trống”

Khoảng trống thứ nhất, đó là sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trong môi trường số chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nền tảng và nội dung số. Khi không gian số ngày càng định hình nhận thức, thị hiếu và lối sống xã hội, khoảng trống này đặt ra thách thức đối với năng lực chuyển hóa vốn văn hóa dân tộc thành sức mạnh mềm và quyền dẫn dắt giá trị. Nếu không sớm khắc phục, các giá trị ngoại sinh sẽ ngày càng chiếm ưu thế, làm suy giảm sức hấp dẫn của văn hóa dân tộc và đặt ra thách thức mới đối với việc gìn giữ bản sắc, củng cố niềm tin và truyền thừa hệ giá trị Việt Nam.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo

Khoảng trống thứ hai, là năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia. Việt Nam sở hữu hơn 40.000 di tích lịch sử -văn hóa, danh lam thắng cảnh; gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có 38 di sản được UNESCO ghi danh. Tuy nhiên, phần lớn kho tàng di sản ấy vẫn chưa được số hóa, chuẩn hóa và kết nối thành dữ liệu dùng chung; chưa được bảo hộ, khai thác hiệu quả dưới dạng tài sản trí tuệ; chưa trở thành tri thức số, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo. Đây chính là khoảng trống cần được lấp đầy để biến vốn văn hóa thành sức mạnh mềm và động lực phát triển mới của đất nước.

Khoảng trống thứ ba, là năng lực sáng tạo các sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh quốc gia còn hạn chế. Chúng ta có một kho tàng văn hóa phong phú, nhưng chưa tạo ra được nhiều tác phẩm văn học, điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật, thiết kế, trò chơi, nội dung số có khả năng trở thành biểu tượng văn hóa Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Khoảng cách giữa vốn văn hóa lớn với năng lực sáng tạo, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm văn hóa vẫn còn đáng kể. Đây là điểm nghẽn cần được tháo gỡ để biến văn hóa từ tài nguyên tiềm năng thành năng lực cạnh tranh thực tế của quốc gia.

Khoảng trống thứ tư, là thể chế và hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa. Nghị quyết đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045, trong khi tỷ trọng hiện nay mới chỉ đạt khoảng 4% GDP. Khoảng cách ấy cho thấy chúng ta vẫn thiếu một hệ sinh thái đồng bộ về thể chế, thị trường, dữ liệu, nhân lực và cơ chế huy động nguồn lực để chuyển hóa sức sáng tạo văn hóa thành sức sản xuất mới và động lực tăng trưởng của quốc gia.

Quán triệt thêm “ba chuyển dịch lớn”, phù hợp với nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới

Thứ nhất, chuyển từ tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới, hiện diện trong mọi quyết sách về kinh tế, chính trị, giáo dục, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và quản trị quốc gia.

Thứ hai, chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số. Xây dựng năng lực tự chủ về dữ liệu, nền tảng và nội dung văn hóa Việt Nam, coi đây là một bộ phận quan trọng của chủ quyền quốc gia trong thời đại số, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm bản sắc dân tộc.

Thứ ba, chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo, để văn hóa không chỉ gìn giữ các giá trị truyền thống mà còn tạo ra tri thức mới, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, ngoài những hạn chế, thực tiễn cũng đang bộc lộ "bốn khoảng trống" lớn cần được nhận diện đầy đủ và sớm khắc phục: Sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trong môi trường số chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nền tảng và nội dung số; năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia; năng lực sáng tạo các sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh quốc gia còn hạn chế; thể chế và hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa.

Từ thực tiễn đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị quán triệt “ba chuyển dịch lớn”: Chuyển từ tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới, hiện diện trong mọi quyết sách về kinh tế, chính trị, giáo dục, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và quản trị quốc gia.

Chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số.

Chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo, để tạo ra tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng phát biểu

Định hướng nhiệm vụ thời gian tới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu tập trung xây dựng, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hóa, bảo đảm văn hóa phát triển tương xứng với vị trí, vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng cho phát triển đất nước.

Hoàn thiện cơ chế quản trị phát triển văn hóa theo hướng hiện đại, lấy dữ liệu, tiêu chuẩn và kết quả thực tiễn làm cơ sở đánh giá, điều hành; phát triển hạ tầng văn hóa số, tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo và mở rộng không gian phát triển văn hóa. Rà soát, cập nhật, hoàn thiện các chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển văn hóa phù hợp với yêu cầu giai đoạn mới, trọng tâm là Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045, bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu phát triển văn hóa với phát triển kinh tế-xã hội.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, đẩy mạnh xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số, coi đây là nội dung hết sức quan trọng trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp các cơ quan liên quan tham mưu định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức xã hội về giá trị văn hóa Việt Nam.

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú, Trưởng ban Chỉ đạo phát biểu

Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo xây dựng và triển khai Chương trình phát triển không gian văn hóa số quốc gia; hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển các nền tảng, kênh truyền thông và hệ sinh thái nội dung văn hóa số mang bản sắc Việt Nam; đầu tư có trọng điểm đối với các tác phẩm, sản phẩm văn hóa có chất lượng nghệ thuật cao, khả năng tiếp cận công chúng lớn, có giá trị giáo dục và lan tỏa quốc tế.

Nêu rõ Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt mục tiêu hoàn thành việc số hóa 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý không được chạy theo tỉ lệ mà số hóa hình thức.

Một di sản không thể được coi là đã số hóa chỉ vì đã được chụp ảnh, quét tài liệu hoặc đưa lên một trang thông tin. Dữ liệu phải có định danh, nguồn gốc, chuẩn kỹ thuật, khả năng tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng; phải phục vụ được việc quản lý, giáo dục, nghiên cứu, du lịch, công nghiệp văn hóa…

Ban Chỉ đạo cần định kỳ kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện; không chỉ đánh giá bằng số lượng sản phẩm văn hóa được đưa lên môi trường số, mà phải đo lường bằng mức độ nhận diện, sức hấp dẫn, khả năng lan tỏa của các giá trị văn hóa Việt Nam và sự chuyển biến trong nhận thức, tình cảm, hành vi văn hóa của người dân, nhất là thế hệ trẻ.

Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh, Ủy viên Thường trực Ban Chỉ đạo báo cáo tại phiên họp

Cùng với đó, khẩn trương hoàn thiện cơ chế xác lập, bảo hộ, quản lý và khai thác quyền sở hữu trí tuệ đối với các tài sản văn hóa được số hóa. Khuyến khích mạnh mẽ việc chuyển hóa chất liệu văn hóa Việt Nam thành các sản phẩm sáng tạo, tạo ra giá trị mới trong đời sống đương đại.

Để phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng phải xác định rõ lĩnh vực nào có khả năng tạo tăng trưởng; địa phương nào có thể hình thành trung tâm dẫn dắt; doanh nghiệp nào có năng lực; dự án nào có thể tạo ra sản phẩm, doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ và thị trường.

Mỗi địa phương trọng điểm chỉ lựa chọn một số ít lĩnh vực và không quá ba dự án dẫn dắt. Mỗi dự án phải làm rõ sản phẩm, doanh nghiệp thực hiện, nguồn vốn, thị trường, tài sản trí tuệ, đóng góp dự kiến vào GRDP, việc làm, xuất khẩu hoặc thu hút du lịch.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhắc lại, Bác Hồ đã căn dặn: "Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi". Trải qua gần một thế kỷ, tư tưởng đó vẫn còn nguyên giá trị. Nhưng trong bối cảnh mới, văn hóa không chỉ soi đường cho mỗi con người, mà còn định hướng con đường phát triển của cả dân tộc.

Các đại biểu dự phiên họp

“Hơn một nghìn năm Bắc thuộc là hơn một nghìn năm phải đối mặt với nguy cơ đồng hóa về văn hóa. Nhưng dân tộc Việt Nam vẫn giữ được tiếng nói, chữ viết, phong tục, tín ngưỡng, đạo lý và ý chí độc lập. Chính sức sống bền bỉ của văn hóa đã gìn giữ sức sống của dân tộc”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng, bảo tồn văn hóa trong kỷ nguyên số không chỉ là lưu giữ di sản, mà phải làm cho di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại, không chỉ số hóa để lưu trữ, mà phải số hóa để giáo dục, sáng tạo, lan tỏa và trở thành nguồn lực cho phát triển, cho công nghiệp văn hóa và cho trí tuệ nhân tạo của Việt Nam.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, tiếp tục nêu cao tinh thần trách nhiệm, khẩn trương cụ thể hóa các nhiệm vụ được giao, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức thực hiện Nghị quyết số 80, đưa văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

THANH HÀ - T. QUANG; ảnh: ĐĂNG KHOA

TIN LIÊN QUAN
































Home Icon VỀ TRANG CHỦ