Tô Văn Đực - người anh hùng chế tạo vũ khí trong lòng đất thép Củ Chi
Câu chuyện cuộc đời Anh hùng Tô Văn Đực không chỉ là ký ức chiến tranh, mà còn là minh chứng sinh động cho trí tuệ, bản lĩnh và ý chí quật cường của người nông dân Việt Nam vùng đất thép anh hùng.
Từ cậu bé mồ côi đất Nhuận Đức đến người lính của địa đạo
Chúng tôi có dịp đến ấp Xóm Bưng, xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh (nay là xã Nhuận Đức, TP Hồ Chí Minh), nơi Anh hùng LLVT nhân dân Tô Văn Đực sinh ra và lớn lên, cũng là nơi gắn bó với gần như toàn bộ cuộc đời chiến đấu của ông. Dù ở tuổi 84, ông vẫn minh mẫn, nhớ rõ từng sự kiện, từng mốc thời gian của một thời bom đạn.

Anh hùng LLVT nhân dân Tô Văn Đực (bên trái) trò chuyện cùng tác giả. Ảnh: XUÂN CƯỜNG
Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, cha mẹ mất khi Tô Văn Đực mới 8 tuổi, thời thơ ấu của cậu bé gắn với những ngày chăn trâu, cắt cỏ, làm thuê, rồi theo anh trai đi cạo mủ cao su cho chủ đồn điền để kiếm miếng ăn qua ngày. Chính hoàn cảnh khó khăn và môi trường cách mạng sôi động ở vùng đất Củ Chi đầu những năm 1960 đã sớm hun đúc trong chàng thiếu niên tinh thần yêu nước, ý chí tham gia kháng chiến.
Năm 1960, vừa tròn 18 tuổi, khi đang làm thuê cho chủ đồn điền cao su ở Thủ Đức (Sài Gòn - Gia Định), chàng thanh niên Tô Văn Đực được cán bộ cách mạng vận động, đã tình nguyện gia nhập lực lượng du kích xã Nhuận Đức. “Thời điểm ấy, thanh niên ở vùng giải phóng ai cũng muốn đi đánh giặc, lập công”, người anh hùng nhớ lại.
Những ngày đầu, chiến sĩ du kích Tô Văn Đực được giao nhiệm vụ tải đạn, tải thương, rồi tham gia đào địa đạo. Hệ thống địa đạo Củ Chi khi ấy không chỉ là nơi trú ẩn, mà còn là “xương sống” của cuộc chiến tranh nhân dân. Ông cho hay, với lòng căm thù giặc sâu sắc, người dân từ lớn đến nhỏ đều biết đào địa đạo, ai cũng góp sức cho cách mạng, chỉ mong sớm đánh đuổi được giặc Mỹ xâm lược.
Hai năm gắn bó với công việc đào địa đạo đã giúp chàng thanh niên tuổi đôi mươi Tô Văn Đực rèn luyện sức chịu đựng, sự tỉ mỉ, đồng thời tích lũy những hiểu biết thực tế về địa hình, cấu trúc đất, những yếu tố sau này góp phần quan trọng vào việc chế tạo và bố trí vũ khí. Năm 1962, Tô Văn Đực nhập ngũ, được điều vào xưởng sản xuất vũ khí thô sơ của Huyện đội Củ Chi. Đây cũng chính là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời chiến đấu của Anh hùng Tô Văn Đực.
Từ xưởng vũ khí thô sơ đến sáng chế “mìn gạt” huyền thoại
Vừa dẫn chúng tôi tham quan vườn nhà, hoa trái sum suê, cựu chiến binh Tô Văn Đực vừa chậm rãi kể cho tôi nghe những năm tháng chiến đấu gian khổ dưới lòng địa đạo Củ Chi. Giọng ông trở nên hào sảng khi nhớ lại những ngày miệt mài chế tạo mìn, các loại súng để chống quân xâm lược ngay trong lòng đất.
Ông kể, xưởng vũ khí khi đó chỉ là một lò rèn với những dụng cụ thô sơ; nguyên liệu chủ yếu là sắt vụn, mảnh bom, đường ray, ống thép nhặt được từ chiến trường. Trong không gian chật hẹp, thiếu ánh sáng và luôn ngột ngạt bởi hơi đất, khói thuốc súng… là những thử thách không nhỏ đối với các chiến sĩ quân giới trong quá trình nghiên cứu, sản xuất vũ khí. Đấy là chưa kể những hiểm nguy phải đối mặt khi cưa bom lấy thuốc nổ. Ban ngày, các chiến sĩ vừa lao động vừa cảnh giác cao độ trước những trận càn quét, đánh phá ác liệt của địch; ban đêm lại miệt mài bên lò rèn, máy tiện thô sơ để kịp thời cung cấp vũ khí cho các đơn vị chiến đấu.

Chiến sĩ quân giới Tô Văn Đực trong xưởng sản xuất vũ khí dưới địa đạo Củ Chi những năm chiến tranh. Ảnh tư liệu
Không qua đào tạo bài bản, chỉ biết đọc, biết viết, chàng thanh niên Tô Văn Đực học nghề bằng cách quan sát các chú, các anh làm việc, ghi nhớ và thực hành. “Có lần, tôi năn nỉ mượn một người anh khẩu súng Col, đạn 12 ly của Mỹ. Mang về xưởng, tôi tháo hết các bộ phận súng ra đặt trên bản vẽ. Trình độ vẽ kỹ thuật không có, tôi đành để cây súng trên nền giấy trắng. Bộ phận nào giống chữ A thì tôi vẽ chữ a, giống như B thì tôi vẽ chữ b, ghi nhớ nằm lòng từng chi tiết trong đầu. Làm được cây súng mô phỏng loại súng này không đơn giản bởi bộ phận cò nổ của súng Mỹ là tự động, bắn một viên là lên luôn viên khác. Tôi ít học, ban đầu mày mò thực tế rất khó, cả tháng trời mới ráp xong được một chiếc súng”, ông Đực nhớ lại.
Làm mãi thành quen, chiến sĩ quân giới Tô Văn Đực đã cùng đồng đội chế tạo được nhiều loại súng phục vụ du kích, như: Súng trường, súng ngắn, trong đó có việc cải tiến súng K54 từ 8 viên lên 14 viên, phù hợp với các loại đạn thu gom trên chiến trường. Trong khoảng hai năm, ông trực tiếp tham gia chế tạo 21 khẩu súng trường, 19 khẩu súng ngắn và một khẩu tiểu liên.
Tuy nhiên, bước ngoặt lớn nhất đến vào năm 1966, khi đế quốc Mỹ và quân ngụy tăng cường đưa xe tăng, xe bọc thép vào càn quét khu vực Củ Chi. Trong điều kiện thiếu thốn vũ khí chống tăng, lực lượng du kích gặp nhiều khó khăn. Ông Đực hồi tưởng: “Thời đó du kích địa phương không có súng B40, B41, đại liên, trung liên gì cả, mà vũ khí chủ yếu là súng thô sơ, lựu đạn..., trong khi phải đối đầu với xe tăng M113, M114, M41, xe bọc thép và vũ khí hiện đại của quân thù. Tôi trăn trở, phải làm cách nào đó để đánh được xe tăng”.
Từ một lần được bộ đội công binh cho mượn mìn cán (xe cán qua gây nổ), ông bắt đầu nghiên cứu và thử nghiệm. Sau khi thấy hiệu quả, ông chủ động tìm kiếm nguyên liệu để sản xuất mìn. Ban ngày, ông đi nhặt bom chưa nổ, những quả bom có thể nặng tới 300kg nằm sâu dưới đất để lấy thuốc nổ. “Thấy nguy hiểm, tôi thường bảo mọi người lui ra, một mình xử lý. Có người nhìn thấy thì xót xa, bảo: “Anh này còn trẻ mà chết thế thì uổng quá” - ông Đực cười, nhớ lại.
Từ thực tế chiến đấu, ông Đực không ngừng cải tiến, nâng cao hiệu quả của mìn. Sau 3 tháng miệt mài nghiên cứu, từ mìn cán, ông sáng chế ra mìn gạt, loại mìn có cơ chế kích nổ khi bị tác động ngang, không cần xe tăng phải cán trực tiếp. Ông giải thích: “Mìn gạt chỉ cần xe đi ngang, đụng vào cần gạt là nổ, hiệu quả cao hơn nhiều so với mìn cán”.
Loại mìn gạt do chiến sĩ Tô Văn Đực sáng chế nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trên chiến trường Củ Chi. Nhân dân, du kích các xã đều tham gia sản xuất và bố trí mìn, tạo thành những khu vực “bãi tử địa”, khiến xe tăng địch gặp nhiều tổn thất. Không chỉ xe tăng, nhiều trực thăng của địch khi hạ cánh cũng bị kích nổ mìn gài trên cây.
Những sáng tạo của chiến sĩ quân giới Tô Văn Đực đã góp phần quan trọng vào việc bẻ gãy các cuộc càn quét của Mỹ-ngụy, bảo vệ lực lượng cách mạng. Không chỉ tích cực nghiên cứu, sản xuất vũ khí, đạn dược, chiến sĩ Tô Văn Đực còn trực tiếp tham gia chiến đấu, tiêu diệt 13 xe tăng và 53 lính Mỹ. Ngày 17-9-1967, ông được trao tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân tại Đại hội Liên hoan Anh hùng, dũng sĩ diệt Mỹ lần thứ II toàn miền Nam.
Có lẽ cho đến giờ, người Mỹ không thể tưởng tượng được rằng một nông dân Việt Nam lại có thể sáng chế ra loại vũ khí có thể tiêu diệt xe tăng như vậy. Ông Đực kể rằng, ông đã từng tiếp một phóng viên và một Trung tá, cựu binh Mỹ sang Việt Nam tìm hiểu vì sao Mỹ lại thua. Ông Đực đã kể cho ông ấy nghe cách ông và các đồng đội đã làm. Nghe xong, người cựu binh Mỹ không khỏi ngạc nhiên, cảm phục.
Trở về với ruộng vườn, giữ trọn nghĩa tình “đất thép”
Chiến tranh kết thúc, Anh hùng Tô Văn Đực đảm nhiệm cương vị cán bộ kỹ thuật ở Sư đoàn 317, Quân khu 7. Năm 1992, Trung tá Tô Văn Đực nghỉ hưu với cương vị Phó chủ nhiệm Kỹ thuật Sư đoàn 317.
Trở về với cuộc sống đời thường, dù là người anh hùng nổi tiếng về chế tạo vũ khí trong những năm tháng chiến tranh, ông vẫn lựa chọn gắn bó với nghề nông, công việc đã theo ông từ thuở nhỏ. “Tôi xuất thân là nông dân, nên sau khi rời quân ngũ, lại quay về làm nông”, người anh hùng chia sẻ.

Anh hùng LLVT nhân dân Tô Văn Đực (thứ hai, từ bên phải sang) tham gia giao lưu với thế hệ trẻ địa phương nhân kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ảnh: THU NGÂN
Cùng vợ con, Anh hùng Tô Văn Đực khai phá vùng đất còn hoang hóa, trồng cây ăn quả, chăn nuôi, từng bước ổn định cuộc sống. Từ một vùng đất sình lầy, nơi từng bị bom đạn giặc cày xới, nay đã trở thành những vườn cây xanh tốt. Ở tuổi xế chiều, ông vẫn giữ thói quen chăm sóc vườn tược, làm những việc giản dị hằng ngày.
Những câu chuyện ông kể về chiến tranh không mang màu sắc bi lụy, mà là sự bình thản của người từng đi qua ranh giới sinh tử.
Trong ký ức của Anh hùng LLVT nhân dân Tô Văn Đực, những ngày tháng chiến đấu ở Củ Chi luôn gắn với sự gian khổ, ác liệt, nhưng cũng đầy tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm của quân và dân ta. Nhiều đồng đội của ông đã anh dũng hy sinh, không ít người mang thương tật suốt đời. Bản thân ông là thương binh, trên cơ thể vẫn còn nhiều mảnh đạn chưa được lấy ra. Mỗi khi thời tiết thay đổi, vết thương lại đau nhức.
Ngày nay, hệ thống địa đạo Củ Chi đã trở thành di tích lịch sử, điểm đến của du khách trong và ngoài nước. Những câu chuyện về chiến tranh, về những con người anh hùng như Tô Văn Đực, trở thành bài học sinh động về lòng yêu nước, chí căm thù giặc ngoại xâm; về ý chí tự lực, tự cường của dân tộc.
Đồng chí Trần Phương Tùng, Bí thư Chi đoàn ấp Xóm Bưng, xã Nhuận Đức bày tỏ: “Cuộc đời Anh hùng LLVT nhân dân Tô Văn Đực là minh chứng tiêu biểu, sống động cho sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam, nơi những con người bình dị, không qua đào tạo bài bản, nhưng bằng trí tuệ, sáng tạo và ý chí kiên cường, đã làm nên những chiến công khiến đối phương phải thừa nhận”.
Từ một cậu bé mồ côi trên vùng đất thép Củ Chi, Tô Văn Đực đã trở thành anh hùng, người sáng chế vũ khí, đạn dược, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng. Trở về đời thường, anh hùng quân giới năm xưa luôn giữ vững phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ; phẩm chất của người nông dân cần mẫn, chất phác và khiêm nhường, tích cực tham gia các hoạt động đoàn thể, góp phần xây dựng quê hương mỗi ngày thêm giàu đẹp.
NGUYỄN HỒNG SÁNG
31 phút trước
18 phút trước
1 giờ trước
3 phút trước
5 phút trước
15 phút trước
17 phút trước
25 phút trước
26 phút trước
27 phút trước
29 phút trước
33 phút trước
35 phút trước
38 phút trước
39 phút trước
43 phút trước