Tín dụng chính sách phát huy tiềm năng kinh tế biển

Mạng lưới điểm giao dịch của Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh An Giang tích cực giúp nhân dân vùng biển đảo vay vốn thuận lợi.
Trong hành trình ấy, nguồn vốn tín dụng chính sách được đưa về tận xã, phường, thôn, ấp không chỉ giúp người dân đầu tư sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, mà còn trở thành điểm tựa quan trọng để giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và không để người dân vùng biển, đảo bị bỏ lại phía sau.
Mở sinh kế từ nguồn vốn ưu đãi
Không gian biển, đảo rộng mở tạo cho An Giang nhiều lợi thế đặc biệt. Đây vừa là ngư trường trọng điểm, có trữ lượng hải sản lớn, được ví như “mỏ vàng” giữa biển Tây, vừa là cửa ngõ giao thương thuận lợi với các quốc gia Đông Nam Á. Những điều kiện đó mở ra cơ hội để địa phương phát triển đồng bộ khai thác, nuôi trồng thủy sản, dịch vụ hậu cần nghề cá, du lịch biển, logistics và thương mại.
Tuy nhiên, đi cùng tiềm năng là không ít khó khăn, thách thức. Địa bàn rộng, giao thông cách trở, nhiều xã đảo nằm xa trung tâm, điều kiện tiếp cận dịch vụ tài chính còn hạn chế. Công tác giảm nghèo, tạo việc làm và bảo đảm an sinh xã hội tại các khu vực bãi ngang ven biển, hải đảo vì thế đòi hỏi nguồn lực lớn cùng phương thức tổ chức phù hợp với đặc thù địa bàn.
Trong bối cảnh đó, lãnh đạo tỉnh An Giang xác định tín dụng chính sách là một mạch vốn đặc thù, góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế biển phát triển theo hướng hiện đại, bền vững. Nguồn vốn ưu đãi giúp người dân có thêm điều kiện đầu tư sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và cải thiện đời sống; đồng thời mở ra cơ hội để hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách vươn lên bằng chính sức lao động của mình.
Thực tế những năm qua cho thấy, các chương trình tín dụng chính sách đã có đóng góp đáng kể đối với lĩnh vực thủy sản, ngành giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, với giá trị kinh tế chiếm 80% GRDP. Cùng với quá trình mở rộng không gian phát triển ra vùng biển, đảo, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của An Giang giảm còn 1,27%. Riêng tại đặc khu Thổ Châu, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 0,26%.
Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Trưởng Ban đại diện Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh An Giang Lê Văn Phước, nguồn vốn chính sách không đơn thuần là một công cụ tài chính, mà còn giữ vai trò là một trong những “trụ cột” quan trọng trong công cuộc giảm nghèo trên toàn tỉnh nói chung và khu vực biển, đảo nói riêng.

Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh An Giang Đoàn Công Thiệt phát biểu tại Hội nghị Ngân hàng Chính sách xã hội triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026.
Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh An Giang Đoàn Công Thiệt cho biết: Đến ngày 30/6, tổng nguồn vốn tín dụng chính sách tại An Giang đạt hơn 15 nghìn tỷ đồng, bao gồm nguồn vốn Trung ương chuyển về, nguồn vốn địa phương ủy thác và nguồn vốn do Ngân hàng Chính sách xã hội huy động qua nhiều kênh, hình thức. Nguồn lực này được ưu tiên đầu tư cho các vùng, dự án trọng tâm, trong đó có khu vực biển, đảo kéo dài từ Rạch Giá, Hà Tiên đến các đặc khu Phú Quốc, Kiên Hải và Thổ Châu.
Hiệu quả của nguồn vốn được thể hiện rõ qua những mô hình sinh kế cụ thể. Tại khu phố 5, phường Hà Tiên, nhiều hộ nghèo và gia đình thuộc diện chính sách đã mạnh dạn vay vốn để phát triển mô hình nuôi cua thương phẩm kết hợp nuôi tôm sú quảng canh.
Ông Trần Văn Phuông là một trong những hộ sử dụng hiệu quả nguồn vốn này. Từ khoản vay 100 triệu đồng của Ngân hàng Chính sách xã hội Hà Tiên, gia đình ông đầu tư nuôi tôm sú, cua và tôm thẻ chân trắng trên diện tích 2,5ha. Mô hình đem lại lợi nhuận khoảng 250 triệu đồng mỗi năm, giúp gia đình ổn định cuộc sống và có điều kiện tái đầu tư sản xuất.
Còn tại ấp An Phú, đặc khu Kiên Hải, bà Trần Thị Hội lại lựa chọn hướng đi khác. Sau nhiều năm bám biển, chứng kiến nguồn lợi thủy sản tự nhiên ngày càng suy giảm, từ chỗ làm thuê cho các tàu đánh bắt, bà quyết định vay vốn ưu đãi, kết hợp số tiền tích lũy để chuyển sang nuôi cá lồng bè trên biển.
Từ những lồng nuôi ban đầu, bà Hội từng bước mở rộng lên bốn bè với 16 lồng, tập trung nuôi các loại cá có giá trị kinh tế cao như cá bớp, cá mú trân châu. Mô hình hiện đem lại thu nhập khoảng 400 triệu đồng mỗi năm.

Nhiều hộ nghèo và gia đình thuộc diện chính sách đã mạnh dạn vay vốn để phát triển kinh tế gia đình.
Đây không chỉ là câu chuyện về hiệu quả sử dụng vốn, mà còn cho thấy sự chuyển dịch sinh kế của ngư dân từ khai thác tự nhiên sang nuôi biển chủ động, phù hợp hơn với yêu cầu bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
Ở đặc khu Thổ Châu, cách đất liền hàng trăm ki-lô-mét, nguồn vốn chính sách vẫn được chuyển đến người dân. Bên cạnh những người lính biên phòng ngày đêm bảo vệ chủ quyền biển, đảo, ngư dân nơi đây được Ngân hàng Chính sách xã hội Phú Quốc tiếp sức hàng chục tỷ đồng vốn ưu đãi để đóng tàu, vươn khơi khai thác thủy sản và đầu tư các bè nuôi cá theo hướng hiện đại.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân đặc khu Thổ Châu Lâm Minh Hiển cho biết, sự kiên trì, tận tâm của đội ngũ cán bộ Ngân hàng Chính sách xã hội đã góp phần bảo đảm việc phục vụ người dân hiệu quả, phù hợp đặc thù biển, đảo; qua đó hỗ trợ địa phương phát triển kinh tế biển gắn khai thác thủy sản với nuôi biển công nghệ cao.
Giữ thông suốt mạch vốn đến cơ sở
Phát triển kinh tế biển hiện đại gắn với giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội không chỉ được đo bằng những chỉ tiêu tăng trưởng. Đó còn là quá trình giúp người dân có việc làm, thu nhập ổn định, có điều kiện chăm lo gia đình và tham gia vào sự phát triển chung của địa phương. Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh An Giang trong giai đoạn mới không chỉ là quản lý một quy mô tín dụng lớn, mà còn phải bảo đảm dòng vốn ưu đãi được chuyển tải thông suốt, đến đúng người, đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và phát huy hiệu quả thực chất.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội tại An Giang gồm một hội sở tỉnh, 25 phòng giao dịch, 298 điểm giao dịch tại 102 xã, phường, đặc khu và 6.328 Tổ tiết kiệm và vay vốn phân bố tại các thôn, ấp, tổ dân phố. Đây là mạng lưới có ý nghĩa đặc biệt đối với một địa phương có diện tích rộng, nhiều vùng biển, đảo nằm xa trung tâm.
Theo Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh An Giang Đoàn Công Thiệt, nếu không có điểm giao dịch gần dân, các tổ chức chính trị-xã hội nhận ủy thác và Tổ tiết kiệm và vay vốn tại cơ sở, người nghèo cùng các đối tượng chính sách sẽ gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận vốn, hoàn thiện hồ sơ, trả nợ, nộp lãi, gửi tiết kiệm hoặc tìm hiểu các chương trình tín dụng của Nhà nước.

Việc duy trì các điểm giao dịch tại xã, phường, đặc khu giúp người dân tiết kiệm đáng kể thời gian và chi phí đi lại.
Một thuận lợi lớn là các phòng giao dịch tại khu vực biển, đảo đã có nền tảng hoạt động hiệu quả trong hơn 23 năm, đồng thời thường xuyên nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của ngân hàng cấp trên và cấp ủy, chính quyền địa phương.
Ngay trong tháng đầu thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, các phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội đã khẩn trương duy trì hoạt động trên toàn vùng biển, đảo tây nam. Đội ngũ cán bộ được bố trí, điều động kịp thời để bảo đảm hoạt động tín dụng không bị gián đoạn sau quá trình hợp nhất địa giới hành chính.
Thông qua các chương trình cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, giải quyết việc làm và các đối tượng chính sách khác, hàng trăm tỷ đồng vốn ưu đãi đã được giải ngân đến các xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn, các thôn, ấp ven biển và hải đảo xa xôi.
Việc duy trì các điểm giao dịch tại xã, phường, đặc khu giúp người dân tiết kiệm đáng kể thời gian và chi phí đi lại. Mỗi phiên giao dịch không chỉ thực hiện cho vay, thu nợ, thu lãi hay nhận tiền gửi tiết kiệm, mà còn là nơi tuyên truyền chính sách mới, hướng dẫn hồ sơ, tiếp nhận nhu cầu, giải đáp vướng mắc và công khai các chương trình tín dụng của Nhà nước.
Cùng với hệ thống điểm giao dịch, mạng lưới Tổ tiết kiệm và vay vốn tiếp tục là “cánh tay nối dài” đưa nguồn vốn về khu dân cư. Thông qua hoạt động bình xét công khai, giám sát sử dụng vốn và đôn đốc trả nợ, trả lãi, các tổ vay vốn góp phần nâng cao trách nhiệm của người vay, hạn chế rủi ro và củng cố chất lượng tín dụng ngay từ cơ sở.
Mạng lưới này càng phát huy vai trò trong bối cảnh sau hợp nhất, khi địa bàn quản lý rộng hơn, khối lượng công việc tăng lên và bài toán giảm nghèo trở nên đa dạng, phức tạp hơn. Nguồn vốn lớn chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển tải kịp thời, an toàn và được người dân sử dụng đúng mục đích.
Bài và ảnh: Thành Văn - Đông Dư
4 ngày trước
9 ngày trước
1 giờ trước
26 phút trước
5 phút trước
16 phút trước
1 phút trước
5 phút trước
5 phút trước
10 phút trước
10 phút trước
10 phút trước
11 phút trước
11 phút trước